Tìm kiếm  
 
 
DANH MỤC THUẬT NGỮ   

Ngân hàng thương mại (Commercial Bank)


( Người gửi: Trung  --   28/02/2007)

( Bình chọn: 8   --  Thảo luận: 11 --  Lượt xem: 163936)

 

Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước.

Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là "vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại.. Hoạt động của ngân hàng thương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội. Khác hẳn với ngân hàng thương mại, ngân hàng Nhà nước (ngân hàng Trung ương) không hoạt động vì mục đích lợi nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ. Mỗi một quốc gia chỉ có một ngân hàng Nhà nước duy nhất, có thể gọi là ngân hàng mẹ có chức năng phát hành tiền, quản lý, thực thi và giám sát các chính sách tiền tệ; và có rất nhiều ngân hàng thương mại, có thể coi là các ngân hàng con có chức năng thực hiện lưu chuyển tiền trong nền kinh tế. Trong trường hợp ngân hàng thương mại đứng trên bờ vực phá sản, ngân hàng Trung ương sẽ là nguồn cấp vốn cuối cùng mà ngân hàng thương mại tìm đến.

Trong ngân hàng thương mại, tiền huy động được của người gửi gọi là tài sản "nợ", tiền cho công ty và các cá nhân vay cũng như tiền gửi ở các ngân hàng khác và số trái phiếu ngân hàng sở hữu gọi là tài sản "có" của ngân hàng. Phần chênh lệch giữa số tiền huy động được và số tiền đem cho vay, gủi ngân hàng và mua trái phiếu gọi là vốn tự có. Phần tài sản có tính thanh khoản cao được giữ để đề phòng trường hợp tiền gửi vào ngân hàng  bị rút đột ngột gọi là tỉ lệ dự trữ của ngân hàng. Toàn bộ số vốn của ngân hàng được chia làm hai loại vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Vốn cấp 1 còn gọi là vốn nòng cốt, về cơ bản bao gồm vốn điều lệ, lợi nhuận không chia và các quỹ dự trữ lập trên cơ sở trích từ lợi nhuận của tổ chức như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Vốn cấp 2 bao gồm: phần giá trị tăng thêm do định giá lại tài sản của tổ chức, nguồn vốn gia tăng hoặc bổ sung từ bên ngoài (như trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi và một số công cụ nợ khác).  

Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và có vậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu. Năm 2005-2006 Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước với mục đích quan trọng nhất là nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức này. Tính đến tháng 2-2007 đã có 34 ngân hàng thương mại hoàn tất việc cổ phần hóa với tổng số vốn điều lệ trên 21.000 tỷ đồng , trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương tín có số vốn điều lệ cao nhất là trên 2.089 tỷ đồng.

saga.vn

 
 
  File gắn kèm:
 
Ðiểm trung bình:
Bình chọn:
 
 
Trao đổi  
 
  taeyoon_maknae 22/03/2011) Có ích: 0/0 Có ích  Không có ích  
 
tại sao ngân hàng trung ương lại cứu ngân hàng thương mại khi nó có triệu chứng mất khả năng chi trả?
 
   
     
  nhocten90 01/06/2010) Có ích: 0/0 Có ích  Không có ích  
 
Mình xin cảm ơn bạn Hahanhdung về sự giúp đỡ của bạn nhé!
 
   
     
  nhocten90 31/05/2010) Có ích: 0/0 Có ích  Không có ích  
 
Bạn nào hãy so sánh giùm mình: tổ chức tín dụng ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng nhé?
Mình cũng không am hiểu lắm.
Mình xin cảm ơn.
 
   
     
  chaukinhte 15/05/2010) Có ích: 1/1 Có ích  Không có ích  
 
Cho mình hỏi:

1. Tại sao cổ phiếu không phải là nguồn tài trợ quan trọng nhất cho doanh nghiệp? Ngoài ra nó còn nguồn tài trợ nào?

2. Việc phát hành CK nợ và CK vốn không phải là kênh chủ yếu để tài trợ cho hoạt động DN?

3. Tài chính gián tiếp có vai trò quan trọng hơn tài chính trực tiếp?
 
   
     
  nhocten90 13/04/2010) Có ích: 1/1 Có ích  Không có ích  
 
Định chế tài chính trung gian là gì mình vẫn chưa hiểu?
 
   
     
  nhocten90 13/04/2010) Có ích: 0/0 Có ích  Không có ích  
 
Bao nhiêu đó đã nói rõ lên được ngân hàng thương mại chưa? Mình muốn am hiểu hơn về ngân hàng. Giúp mình nhé!
 
   
     
  hahanhdung 13/04/2010) Có ích: 0/0 Có ích  Không có ích  
 
Mình xin giúp nhocten90 một chút về khái niệm định chế trung gian tài chính.

Định chế trung gian tài chính là một công ty có thể mua tài sản tài chính bằng nguồn tiền thu được từ phát hành một loại tài sản tài chính khác của chính định chế đó. Khi một thị trường tồn tại các tài sản tài chính mua bằng tài chính của các định chế trung gian, ta gọi đó là thị trường tài chính được điều hoà.

Các sản phẩm của định chế trung gian tài chính bao gồm:

    * Giảm rủi ro thông qua phân tán;
    * Điều hoà thời hạn;
    * Giảm chi phí hợp đồng;
    * Sản xuất-cung cấp thông tin;
    * Quản lý hệ thống thanh toán;
    * Bảo hiểm.

Có các loại định chế trung gian điển hình
(Xét thị trường tài chính Mỹ)

    * Ngân hàng thương mại;
    * Ngân hàng tiết kiệm và cho vay quy mô nhỏ;
    * Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ;
    * Liên hiệp tín dụng;
    * Công ty tài chính;
    * Công ty đầu tư;
    * Công ty bảo hiểm.

Bảo đảm sự lành mạnh của những định chế trung gian tài chính: được thực hiện qua 6 loại qui định khác nhau

1. Các hiệp hội về bảo hiểm và hoạt động ngân hàng tiểu bang cũng như Văn phòng kiểm tra tiền (một cơ quan của chính phủ liên bang) đã thiết lập các qui định rất chặt chẽ cho những nhóm người được phép lập một trung gian tài chính. Những cá nhân hoặc nhóm muốn thiếp lập một trung gian tài chính như một ngân hàng hay một công ty bảo hiểm, phải có một đặc quyền do chính phủ tiể bang hay liên bang trao cho. Chỉ khi họ là những công dân đích thực với những giấy chứng nhận là người hoàn hảo (không thể phạm sai lỗi) và một khoản vốn ban đầu lớn thì mới nhận được một đặc quyền.

2. Có những yêu cầu buộc những trung gian tài chính phải báo cáo chính xác. Việc quản lý sổ sách của họ phải theo những nguyên tắc chặt chẽ nhất định, các sổ sách của họ là đối tượng để cho các cuộc kiểm tra định kỳ, và họ phải chuẩn bị những thông tin nhất định sẵn sàng cho công chúng.

3. Có những hạn chế về những gì các trung gian tài chính được phép làm và những tài sản nào họ có thể được nắm giữ. Trước khi bạn giao vốn của bạn cho một ngân hàng hoặc một tổ chức khác như vậy, bạn sẽ muốn biết rằng vốn của bạn được an toàn và rằng ngân hàng hay một trung gian tài chính khác sẽ có khả năng đáp ứng được những nghĩa vụ của họ đối với bạn. Một phương pháp để làm như vậy là giới hạn một trung gian tài chính không cho họ thực hiện một số hoạt động có rủi ro nào đó. Luật pháp được thông qua năm 1933 tách những công việc ngân hàng thương mại ra khỏi công nghiệp chứng khoán do đó các ngân hàng không thực hiện những liên doanh có rủi ro gắn với công nghiệp này. Một phương pháp khác là hạn chế những trung gian tài chính không được nắm giữ một số tài sản có rủi ro nào đó, hoặc ít nhất là không được nắm giữ một lượng quá lớn những tài sản có rủi ro này so với mức đủ khôn ngoan. Ví dụ các ngân hàng thương mại và những tổ chức gửi tiền khác thực tế là không được phép giữ bất kỳ một cổ phiếu n ào bởi vì giá cổ phiếu có những dao động quan trọng. Các công ty bảo hiểm được phép giữ vững những cổ phiếu nhưng những cổ phiếu mà họ nắm giữ không thể vượt quá một tỉ lệ nào đó so với toàn bộ tài sản của họ.

4. Chính phủ có thể bảo hiểm cho những người cấp vốn cho một trung gian tài chính không bị một số tổn hại nào nếu trung gian tài chính bị phá sản. Cơ quan chính phủ quan trọng nhất cung cấp loại bảo hiểm này là Công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC), công ty bảo hiểm mỗi người gửi ở một ngân hàng thương mại hoặc ở một ngân hàng tiết kiệm tương trợ tới mức tổn thất 100.000 đôla. Tất cả các ngân hàng thương mại và các ngân hàng tiết kiệm tương trợ trừ một ít trường hợp ngoại lệ thứ yếu, đều đóng góp tiền vào FDIC được thành lập năm 1943, sau một loạt vụ phá sản của các ngân hàng vòa các năm 1930 - 1933 trong đó những món tiền tiết kiệm của nhiều người gửi tiền ở các ngân hàng thương mại bị mất trắng. Những cơ quan chính phủ tương tự hiện tồn tại cho những tổ chức gửi tiền khác: Quỹ bảo hiểm hiệp hội tiết kiệm (The Savings Asociation Insurance Fund) là một bộ phận của FDIC cung cấp bảo hiểm tiền gửi cho các công ty tiết kiệm và cho vay và Quỹ bảo hiểm cổ phần liên hiệp tín dụng quốc gia (The National Credit Union Share Insurance Fund - NCUSIF) cho các liên hiệp tín dụng.

5. Những nhà chính trị đã thường tuyên bố rằng cuộc cạnh tranh không kiềm chế giữa những trung gian tài chính sẽ thúc đẩy những vụ vỡ nợ xảy ra và những vụ này sẽ làm hại công chúng. Tuy bằng chứng về cuộc cạnh tranh gây ra như điều vừa nói là cực kỳ yếu ớt, nó đã không là chính phủ liên bang và tiểu liên bang ngừng áp đặt nhiều qui định hạn chế. Những qui định này có hai dạng. Thứ nhất, là những hạn chế đối với việc mở các địa điểm phụ (các chi nhánh). Các ngân hàng thường không được phép mở thêm các chi nhánh tại các tiểu bang khác, và tại một số tiểu bang, các ngân hàng không được phép mở bất kỳ một địa điểm phụ nào.

6. Ngoài ra, các cạnh tranh đã bị ngăn cấm bởi những qui định áp đặt sự hạn chế đối với các lãi suất có thể được thanh toán cho các món tiền gửi. Sau 1933, các ngân hàng đã bị cấm thanh toán lãi cho những tài khoản séc. Ngoài r, cho tới năm 1986 Hệ thống Dự trữ Liên bang được quyền (theo quy định Q) định ra các lãi suất tối đa mà các ngân hàng có thể thanh toán cho các món tiền gửi tiết kiệm. Các qui định này được đưa ra bởi lòng tin rộng rãi rằng lãi suất không bị hạn chế, đã thúc đẩy thêm các vụ phá sản ngân hàng trong thời kỳ Đại suy thoái. Chứng cớ vừa nêu xem ra không có vẻ ủng hộ cho quan điểm này.
 
   
     
  dk_1612 18/03/2010) Có ích: 1/1 Có ích  Không có ích  
 
cho em hỏi hình như cũng có NHTW của NHTM, nghĩa là ngân hàng đứng đầu của các NHTM ngoài NHTW của quốc gia đúng không các bác?
 
   
     
  huy_pnh 12/11/2009) Có ích: 0/0 Có ích  Không có ích  
 
Bài viết thật sự có bổ ích, cám ơn bạn!!
 
   
     
  Umisushi87 06/04/2009) Có ích: 0/0 Có ích  Không có ích  
 
Mình nghĩ là:

Dư nợ bình quân (1 năm) = (Tổng dư nợ đầu năm + Tổng dư nợ cuối năm)/2

Ở đây, không rõ đề bài bạn đưa ra có thiếu không? Mình nghĩ cần có số liệu về "tổng dư nợ đầu năm" hoặc là "Doanh số cho vay trong năm" thì mới có thể tính được.

Đấy là thiển ý của mình, không rõ có ai có thể giải đáp được bài trên với số liệu như trên không?
 
   
     
  henhen 03/02/2009) Có ích: 1/1 Có ích  Không có ích  
 
Dư nợ tín dụng bình quân trong công thức tính vòng quay tín dung=doanh số thu nợ: dư nợ bình quân tính thế nào? 

Nếu biết doanh số thu nợ=1392, tổng dư nợ=837 thì vòng quay vốn tín dụng=0,62 hoặc nếu biết dư nợ phân theo thời hạn là ngắn hạn là 626 thì đáp số ra là 0,81 vòng/ năm.
  

Mình làm mãi mà không biết làm sao ra 0,62 và 0,81. Nếu bạn biết chỉ giúp mình với.

Cảm ơn nhiều.
 
   
     
 
     Gửi thảo luận  
     
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Ðể tham gia thảo luận, bạn cần Đăng nhập)  
 
 
 
::  THUẬT NGỮ LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC THUẬT NGỮ MỚI
 
 
 
 
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

THUẬT NGỮ MỚI

  Cán cân thanh toán  
  Thu nhập trước lãi vay và thuế  
  Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh  
  Ngân hàng thương mại  
  Báo cáo kết quả kinh doanh  
  Chỉ số vòng quay các khoản phải trả  
  Tỷ lệ tăng trưởng tài sản  
  Hệ số vòng quay các khoản phải thu  
  Bút toán chú thích  
  Sự cạnh tranh giữa các giới tính  

TRA CỨU NHIỀU NHẤT

  Ngân hàng thương mại (163937)  
  Bảng cân đối kế toán (142320)  
  IPO (118948)  
  Giá trị hiện tại thuần (90523)  
  Hệ số thu nhập trên vốn cổ phần (87783)  
  Dòng tiền chiết khấu (87054)  
  Hệ số thị giá và thu nhập cổ phiếu (75482)  
  Thị trường chứng khoán (72186)  
  Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (71165)  
  Tài chính (68262)  

 

 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.