Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Tổng quan thị trường tài chính | Thị trường sơ cấp | Thị trường thứ cấp | Ngân hàng | Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Thị trường » Ngân hàng

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Quy trình tín dụng của ngân hàng
Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2)
Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại (Bài 3)
Ngân hàng là gì?
Hoạt động Marketing của các Ngân hàng thương mại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng (Phần 1)
Thuê tài chính và những điều doanh nghiệp cần biết
Cách xác định hạn mức tín dụng (phần 2)
Cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng (Phần 2)
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Cục Dự trữ liên bang Mỹ: Ngân hàng Trung ương tư hữu  
  Sự ra đời của ngân hàng trung ương  
  Quy trình tín dụng của ngân hàng  
  Thuê tài chính và những điều doanh nghiệp cần biết  
  Một số biện pháp Kiểm soát tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát và hạn chế rủi ro tín dụng  
  Lịch sử ngành ngân hàng thế giới  
  Cách xác định hạn mức tín dụng (phần 2)  
  Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2)  
  FED - Vì sao quan trọng?  
  ĐCSVN - Ngân hàng Việt Nam trước vận hội và thách thức mới  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: Saganor  --   29/06/2008 12:45 AM    

Nhìn lại quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam

( Bình chọn: 7   --  Thảo luận: 3 --  Số lần đọc: 24043)

Cùng với các nỗ lực kiềm chế lạm phát như cắt giảm chi tiêu và đầu tư, đẩy mạnh phong trào tiết kiệm... các động thái điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước với thị trường tiền tệ thông qua công cụ lãi suất rất đáng chú ý. Nhìn lại quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam mang lại hiểu biết đầy đủ hơn về cách thức sử dụng và tác động của công cụ này.

I. Ý nghĩa của lãi suất và tự do hóa lãi suất 
Lãi suất là một phạm trù kinh tế khách quan, mang tính chất tổng hợp và đa dạng. Nó là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức phải trả trên tổng số vốn đi vay trong một thời gian nhất định (năm, quí, tháng, ngày v.v..). Lãi suất được biểu hiện dưới dạng số tuyệt đối, đó chính là lợi tức tín dụng. Như vậy lợi tức tín dụng là khoản tiền phải trả cho việc vay mượn quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định.  

Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất giữ vị trí khá quan trọng, nó được thể hiện như sau: 

° Lãi suất là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Chính sách lãi suất, nếu tạo ra được mức lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ có tác dụng thúc đẩy kích thích các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, trang bị công nghệ sản xuất hiện đại bằng nguồn vốn vay ngân hàng. Hiệu quả cuối cùng sẽ tạo ra một nguồn vốn của cải cho xã hội, tổng thu nhập quốc dân tăng lên rất nhiều. 

° Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, lãi suất là giá cả của vốn, do vậy thông qua lãi suất các ngân hàng thương mại sẽ tự điều chỉnh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng của mình mà kết quả cuối cùng là nền kinh tế, các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư được lợi hơn vì sẽ được hưởng giá rẻ và chất lượng dịch vụ cao. 

° Lãi suất là công cụ dùng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư trong nền kinh tế, hay nói cách khác, khi các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư có vốn, muốn đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải lấy lãi suất tín dụng trong nền kinh tế làm cơ sở và quyết định, ít nhất hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác để sinh lời phải có tỷ lệ lớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng lãi suất tín dụng. 

° Lãi suất còn là công cụ để kềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu thông, cân đối với khối lượng hàng hóa. 

Như vậy, lãi suất trong nền kinh tế là công cụ kinh tế khá quan trong, làm sao lãi suất phải phù hợp với lãi suất của các nước trên thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề được đặt ra và cần được giải quyết. Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, thực chất của tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn toàn để cho cung cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng. Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp bằng các công cụ để điều chỉnh theo định hướng mà thôi. Hay nói cách khác: Tự do hóa lãi suất là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. 

Tự do hóa lãi suất nói riêng và tự do hóa tài chính nói chung có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vào nền kinh tế thế giới trên phương diện vĩ mô lẫn vy mô: 

1. Xét ở phương diện vĩ mô của nền kinh tế:  

Trong quá trình phát triển nền kinh tế và hội nhập, VN đã có những thành công bứơc đầu trong việc hội nhập với nền kinh tế thế giới sau nhiều năm bị gián đoạn. Hiện nay, chúng ta đã có mối quan hệ với IMF, WB, ADB, .v.v và là thành viên của ASEAN từ năm 1997, gia nhập AFTA và đang chuẩn bị gia nhập WTO, bước đầu hòa nhập như vậy chúng ta đã có những thành công lớn, kế tiếp là chúng ta đã chuyển đổi một số hoạt động cho phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó có lĩnh vực tài chính, ngân hàng. 

Như vậy tự do hóa lãi suất, chuyển dần sang thực hiện các công cụ gián tiếp điều hành chính sách lãi suất, giảm sự can thiệp và điều hành bằng các công cụ hành chính trực tiếp, từ đó sẽ trả lãi suất đúng vai trò là đòn bẩy kích thích nền kinh tế phát triển, nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế. 

2. Về phương diện vi mô của nền kinh tế:  

Tự do hóa lãi suất sẽ thúc đầy cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nước và các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài tại VN, giúp các ngân hàng trong nước có điều kiện phát triển, đa dạng hóa nghiệp vụ, tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn. Đối với các khách hàng của ngân hàng thương mại đó là các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời được quyền lựa chọn các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng để giao dịch, hoạt động. 

II. Quá trình tự do hóa lãi suất ở VN 

Quá trình tư do hóa lãi suất ở VN, chính là quá trình điều hành cơ chế lãi suất qua các thời kỳ phát triển của nền kinh tế, quá trình đó đựoc thể hiện như sau: 

1. Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung (trước năm 1998):  

 Đặc trưng cơ bản của lãi suất thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung kéo dài, đó là áp dụng chính sách lãi suất bao cấp khá nặng nề, lãi suất đựơc xây dựng thoát ly lãi suất của nền kinh tế thế giới. Dẫn đến lãi suất thực thi trong thời kỳ này với tình trạng “lãi giả và lỗ thật” làm cho ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình do lạm phát tăng cao và lãi suất thực là số âm, vì tỷ lệ lạm phát đã lớn hơn lãi suất danh nghĩa. 

2. Lãi suất thời kỳ nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (từ năm 1988 đến 2006).  

Bước ngoặt trong tiến trình đổi mới, cải cách nền kinh tế VN trong lĩnh vực ngân hàng bắt đầu bằng Nghị định 53/HĐBT ngày 26.3.1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Nội dung cơ bản của Nghị định 53/HĐBT đó là “Đã hình thành việc phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, làm tiền đề cho hai pháp lệnh về: Ngân hàng Nhà nước và pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23.5.1989 của Hội đồng nhà nước. Hai pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 1.10.1990 với nội dung chủ yếu: Xóa hẳn mô hình ngân hàng một cấp và xây dựng mô hình ngân hàng hai cấp phù hợp với mô hình của ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trong đó Ngân hàng Nhà nước VN thực hiện chức năng ngân hàng của các ngân hàng, quản lý hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế, còn ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, thực hiện chức năng kinh doanh trực tiếp về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trong nền kinh tế. Từ Pháp lệnh ngân hàng có hiệu lực 1.10.1990, đến ngày 1.10.1998 Luật ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ra đời và có hiệu lực cho đến nay đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.

Nhìn lại diễn biến của chính sách lãi suất qua từng thời kỳ, cho chúng ta thấy những bước phát triển của mỗi thời kỳ tương xứng với sự phát triển của nền kinh tế. Quá trình tự do hóa lãi suất của Việt Nam được thể hiện tổng quát như sau: 

a. Cơ chế thức thi chính sách lãi suất cố định (1989-5.1992):  

Đây là cơ chế lãi suất đã có từ trước nhưng có sự thay đổi căn bản, theo nguyên tắc của việc xác định lãi suất là: Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Cơ chế lãi suất này được điều chỉnh theo biến động của chỉ số giá, đặc biệt là lãi suất ngoại tệ được áp dụng theo mức lãi suất của thị trường tiền tệ quốc tế. Thực tế vận hành trong một thời gian (1989-1992), cơ chế lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu phát huy tác dụng, là bước chuyển của cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương. 

b. Cơ chế điều hành khung lãi suất (6.1992-1995):  

Đặc trưng của cơ chế này là Ngân hàng Nhà nước điều hành cơ chế lãi suất theo khung lãi suất, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng căn cứ khung lãi suất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình, thực chất là bước chuyển đổi căn bản từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương, đảm bảo cho các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng kinh doanh có hiệu quả, đây là cơ chế lãi suất khởi đầu cho quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam. 

c. Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996-7.2000):  

Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà nước đã thay đổi căn bản cơ chế điều hành linh hoạt trần lãi suất, bước đầu đã thực hiện tự do hóa lãi suất huy động (lãi suất đầu vào của ngân hàng thương mại) và linh hoạt trần lãi suất cho vay (lãi suất đầu ra). Cơ chế lãi suất này đã góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á. 

d. Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8.2000-5.2002):  

Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần. Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời. 

Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Theo cơ chế lãi suất này cho thấy Ngân hàng Nhà nước VN đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới. 

e. Cơ chế lãi suất thỏa thuận (6.2002 – 2006):  

Trong thực tế, cơ chế lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi từng bước bắt đầu từ tháng 5.2001 áp dụng cho hình thức vay bằng ngoại tệ, tiếp theo 5.2002 là áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng trong nước. Nhìn một cách tổng quát thì quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có kết quả nhất định. 

Trong năm 2008, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã tăng lãi suất cơ bản 3 lần và tới thời điểm tháng 6/2008, mức lãi suất đang là 14%, mức cao nhất ở Châu Á, từ mức 12% trước đó. NHNN cũng giảm giá đồng VND 2% trong tháng này nhằm giải tỏa áp lực đối với đồng tiền trong nước.

Tóm lại 

Có thể nói quá trình đổi mới cơ chế điều hành lãi suất ngân hàng ở Việt Nam từ khi có mô hình ngân hàng hai cấp (1988) đến nay đã trải qua năm bước chuyển đổi căn bản, đó là những bước đi khá thận trọng và khẳng định xu hướng tất yếu của quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam. Quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định: 

- Tiến hành cải cách, điều chỉnh chính sách lãi suất làm cho lãi suất trong nền kinh tế đã trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phát. 

- Lãi suất góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế nói chung, kích thích sự tiết kiệm và khuyến khích đầu tư. Việc xóa dần chính sách ưu đãi về lãi suất đã dần dần tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại thực hiện tốt công tác hạch toán kinh tế và kinh doanh của mình được chủ động và thuận lợi. 

- Chính sách lãi suất qua các lần biến đổi đã tiến dần đến tự do hóa lãi suất, chuẩn bị cho sự hội nhập về lãi suất với nền kinh tế thế giới. Quyết định 546/2002 QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động tín dụng, đây là một bước ngoặt lớn đánh dấu sự mở đầu trong việc thực hiện cơ chế tự do hóa lãi suất trong nền kinh tế đối với hoạt động tín dụng và lãi suất cơ bản công bố của Ngân hàng Nhà nước dần dần sẽ mang tính chất tham khảo đối với các tổ chức tín dụng trong việc xác định lãi suất từng thời kỳ. Như vậy quá trình đổi mới cơ chế lãi suất từ kiểm soát trực tiếp, cố định lãi suất sang cơ chế lãi suất thỏa thuận thực chất là dần dần đã tự do hóa lãi suất, đây là những bước đi thận trọng, đã có những thành công cơ bản của quá trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam.

Theo Tạp chí Kế toán- tháng 6/2006

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 34/ 7 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 2)
  daodiep (08/09/2010 03:09 PM) Có ích: 0/0    
 
Đọc phần trên em thấy ghi việt nam gia nhập asean vào năm 1997 nhưng theo em được biết thì đó là vào năm 1995 hi
 
   
     
  Saganor (29/06/2008 01:08 AM) Có ích: 4/4    
 
© SAGA - Chính sách lãi suất trong các năm qua -  Thực tế, ở Việt Nam, lãi suất cũng như tỷ giá chỉ được vận hành với một số nét đặc trưng của thị trường từ năm 1989. Trước tình trạng lạm phát tăng cao đến năm 1989, chúng ta đã áp dụng lãi suất thực dương. Lãi suất danh nghĩa tiền gửi từ 0,9% đến 2,4%/tháng và lạm phát ở mức 1,9%/ tháng nên lãi suất thực dương ở mức 2,1%/tháng. Chính nhờ giải pháp này lạm phát đã giảm đi trông thấy. Tuy nhiên, phải thấy rằng trong thời gian này các quỹ và hợp tác xã tín dụng mọc lên như nấm sau mưa với tổng số hơn 7.180 đơn vị. Hàng loạt tổ chức tín dụng ở thành thị đua nhau tăng lãi suất để huy động vốn. Cả hệ thống rơi vào vòng xoáy tăng lãi suất để huy động vốn nhưng không để ý đến việc cho vay ra thế nào để vừa bảo toàn vốn và vừa có lãi cao. Bên ngoài xã hội có hiện tượng đầu tư rủi ro cao, không có sự kiểm soát nghiêm ngặt nên kết quả nhiều đơn vị sản xuất không trả được nợ cho các tổ chức tín dụng. Hậu quả sau đó là nhiều tổ chức tín dụng đổ bể. Đến cuối năm 1990, số quỹ tín dụng chỉ còn 160 đơn vị.

Sang giai đoạn 1991-1995, chúng ta đã gắn lãi suất danh nghĩa với chỉ số giá để đảm bảo lãi suất thực dương từ năm 1992, đây là sự tuân thủ nguyên tắc lãi suất thực dương. Trong giai đoạn này chính sách trần và sàn lãi suất đã có tác dụng nhất định trong thúc đẩy kinh tế phát triển và hạn chế bớt rủi ro lãi suất gây ra như giai đoạn trước đó. Lãi suất liền gửi tiết kiệm VNĐ trong giai đoạn 1991-1995 là rất cao: năm 1992 là 34,1%/năm, năm 1993 là 20,4%/năm, năm 1994 là 16,8%/năm và năm 1995 là 16,8%/năm trong khi tỷ lệ lạm phát trong những năm này đã giảm đáng kể nên lãi suất thực dương năm 1992 là 16,6%, năm 1993: 15,2%, năm 1994: 2,4%, năm 1995: 4,1%.

Qua thực tế điều hành cho thấy áp dụng lãi suất thực dương là một chính sách đúng đắn để chống lạm phát. Nhưng nếu duy trì lãi suất thực dương quá cao sẽ đẩy đến đầu tư có thể bị sút giảm trong đỉnh điểm của lãi suất dương và hiệu quả kinh tế có thể giảm sút.

Nếu lấy lãi suất dương chia cho tỷ lệ lạm phát để tìm quy luật quan hệ giữa chúng với nhau, chúng ta thấy năm 1992 tỷ lệ này là 94,85%, năm 1993 là 292,3%, năm 1994 là 16% và năm 1995 là 32,5%. Như vậy, năm 1993 tỷ lệ lãi suất dương so với tỷ lệ lạm phát là quá cao (292,3%) đã góp phần đưa lạm pháp từ 17,5% năm 1992 xuống 5,2% năm 1993 nhưng lại làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh khó lòng đạt cao được như vậy. Năm 1994, tỷ lệ này lại giảm quá thấp chỉ bằng 16% đã nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh nhưng lại có tác động không tốt cho kiềm chế lạm phát dẫn đến tỷ lệ lạm phát lại tăng lên từ 5,2% năm 1993 lên 14,4% năm 1994.

Từ năm 1995, các ngân hàng thương mại (NHTM) được phép tự do định mức lãi suất tiền gửi với mục tiêu tăng cường sự cạnh tranh giữa các ngân hàng trong huy động vốn. Tuy nhiên, Nhà nước quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi tối đa không được quá 0,35%. Như vậy thực chất các ngân hàng vẫn phải chịu khống chế cả lãi suất tiền gửi và cho vay, cho dù mức chênh lệch lãi suất thực tế có khác nhau giữa các ngân hàng tuỳ thuộc cơ cấu chi phí cụ thể. Chính sách này có lợi cho các NHTM là duy trì được mức lợi nhuận mong muốn.

Sang năm 1997-1998, chúng ta đã không xiết chặt kiểm soát mà lại có vẻ nới lỏng chính sách lãi suất, trần lãi suất được nâng lên để các NHTM có thể tăng lãi suất tiền gửi nhằm huy động vốn và quy định giới hạn chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi ở mức 0,35%/tháng đã dần hết tác dụng, cuối cùng là bãi bỏ. 

Hơn nữa, mặc dù trong giai đoạn 1996-2000 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực nên nền kinh tế tăng trưởng thấp nhưng về chính sách lãi suất chúng ta vẫn chưa cho áp dụng hoàn toàn theo cơ chế thị trường nên lãi suất Việt Nam đồng vẫn cao hơn nhiều so với tỷ lệ lạm phát. Thực tế hầu như ba năm đầu của giai đoạn này lãi suất không thay đổi, chỉ trong hai năm 1999, 2000 do có thiểu phát nên lãi suất đã được điều chỉnh giảm chút ít nhưng không đáng kể. Còn xem xét  mức lãi suất thực dương thì lại không phải giảm mà tăng lên.

Tuy nhiên, nếu so với tỷ lệ lạm phát thì lãi suất dương trong thời kỳ này đã được hạ xuống ở mức thấp hơn so với thời kỳ trước: năm 1996 là 5,4%, năm 1997: 6,3%, năm 1998:1%, năm 1999: 5,35% và năm 2000 là 5,05%. Mặc dù lãi suất dương thấp như vậy nhưng nếu chia lãi suất dương cho tỷ lệ lạm phát thì cho thấy tỷ lệ này vẫn rất cao. Năm 1996 tỷ lệ lãi suất dương chia cho tỷ lệ lạm phát là 120%, năm 1997 là 175%, năm 1998 là 11,6%, năm 1999 là 5350% và năm 2000 thì quá cao trên 6000%. Điều này có thể giải thích vì sao giai đoạn này thiểu phát .

Trong giai đoạn 2001-2007, chính sách lãi suất đã từng bước được đổi mới phù hợp với cơ chế thị trường. Bước đầu lãi suất USD đã được tự do hoá (6/2001), sau đó đến lãi suất đồng Việt Nam được tự do hoá (6/2002). Mặc dù chính sách lãi suất được coi là tự do hoá nhưng vẫn tồn tại lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Lãi suất cơ bản được áp dụng từ tháng 8 năm 2000 và được xác định hàng tháng trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay của  15 NHTM áp dụng với khách hàng tốt nhất. Tuy nhiên, nhiều khi lãi suất này có thể được quyết định bởi 4 NHTM nhà nước  vì thị phần tín dụng của 4 ngân hàng này chiếm trên 70% thị trường trong nước. Để dễ tính toán và so sánh chúng tôi chọn mức lãi suất tương đối trung bình, tức là lấy mức lãi suất tiền gửi ba tháng.

Năm 2001, lãi suất thực dương quá cao nên đã đưa đến lạm phát thấp (lãi suất thực dương lớn gấp 5,75 lần tỷ lệ lạm phát). Năm 2002 tình hình lãi suất thực dương có giảm xuống, chỉ lớn bằng 0,5 lần tỷ lệ lạm phát nên lạm phát đã nhích lên ở mức hợp lý (4,0%). Năm 2007, lãi suất thực dương là âm nên tỷ lệ lạm phát tăng cao.

Điều chú ý là năm 2004, khi tình hình kinh tế có biến động không tốt, lạm phát có dấu hiệu tăng lên nhưng lãi suất lại không tăng lên tương ứng do đó lãi suất thực bị âm và tỷ lệ giữa lãi suất thực âm này so với tỷ lệ lạm phát là 34,7% thể hiện giá của đồng tiền giảm xuống đáng kể. Hơn nữa năm 2007, lạm phát tăng cao nên lãi suất thực dương xuống thấp.

Trong những tháng đầu năm 2008, tình hình lãi suất có những biến động, đầu năm lãi suất lên cao. Đặc biệt là từ đầu tháng 2/2008 lãi suất huy động trên thị trường đã biến động mạnh do các NHTM liên tục tăng lãi suất huy động VNĐ lên mức 13-14%/năm và đã đẩy lãi suất cho vay lên đến mức trên 1,5%/tháng vào tháng 3 năm 2008, có nơi còn cho vay với lãi suất xấp xỉ 20%/năm. Đây là một sự chuyển động theo tín hiệu lãi suất thực dương. Tuy nhiên, bên cạnh người gửi tiền phấn khởi vì lãi suất tiền gửi lên là người đi vay phải lo lắng cho việc không thể nào chịu đựng nổi lãi suất đi vay 15-17%/năm. Các NHTM thì vẫn sử dụng chính sách huy động lãi suất cao và cho vay lãi suất cũng cao theo, tức là vẫn có lãi lớn trong trước mắt. Thực tế đã có một số NHTM cổ phần với nhận thức như vậy đã cố tình đẩy lãi suất huy động lên làm cho thị trường tiền tệ có nhiều biến động mạnh.

Sau khi NHNN có công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 về việc chốt trần lãi suất huy động VNĐ ở mức 12%/năm thì ngày 24/3/2008, Hiệp hội các Ngân hàng có họp và có sự đồng thuận về lãi suất, các NHTM mới có sự điều chỉnh lãi suất với mức 10,5%/năm (dưói 6 tháng) và 11%/năm (trên 6 tháng). Đến đầu tháng 4 năm 2008 lãi suất huy động VNĐ kỳ hạn 1 năm ở mức 11,5-12%, lãi suất cho vay VNĐ ở mức16-18%/năm, lãi suất huy động USD kỳ hạn 6 tháng đến 1 năm ở mức 6%-6,5%/năm. Đến  ngày 16/4/2008, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu NHNN bỏ trần lãi suất huy động, để thị trường tự điều tiết vì thấy các NHTM đều huy động với lãi suất thấp hơn lãi suất trần. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, một vài NHTM cổ phần đã tranh thủ đẩy lãi suất huy động lên cao hơn mức trần 12%. Việc đẩy lãi suất huy động lên trên 12% của một vài NHTM cổ phần là nhằm thu hút được nhiều vốn vì họ vẫn có lãi khi cho vay với lãi suất cao 18-20%. 

Lãi suất thực dương cao có tác dụng kiềm chế lạm phát nhưng cao quá mức thì có thể là một tai hoạ cho nền kinh tế trong các năm tiếp theo. Việc cho vay với lãi suất quá cao 18-20% của một số NHTM cổ phần là một sự bảo đảm có lợi nhuận lớn cho các ngân hàng này vì chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động là quá lớn 6-7%, trước đây ta chỉ cho mức chênh lệch này ở mức không quá 0,35%. Lãi suất cho vay lên cao đã tạo ra gánh nặng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vì không có mấy hoạt động có thể có lãi trên 20%, tức là đủ trả lãi cho NHTM cổ phần và một phần để cho doanh nghiệp.

Tuy vậy, tại sao các NHTM cổ phần vẫn thiếu vốn cho vay và NHNN vẫn phải cho vay tái cấp vốn với lãi suất 0.9%/tháng? Chúng tôi cho rằng điều này NHNN phải nghiên cứu thật kỹ, kiểm tra thật chặt chẽ vì khả năng vay vốn đầu cơ nhiều hơn là cho sản xuất kinh doanh, hoặc những dự án đã trót triển khai thì bắt buộc phải vay, lãi suất cao bao nhiêu cũng chịu nhưng không lường và không tính đến khả năng không trả được nợ. Bài học hơn 25 ngàn tỷ đồng nợ xấu không thu được phải xử lý của các NHTMNN trước đây vẫn còn trước mắt.

Việc NHNN tái cấp vốn với lãi suất 0,9%/tháng cho các NHTM cổ phần thiếu vốn cho vay thực tế là làm cho tiền trong lưu thông lại tăng lên và vòng tiếp theo là lạm phát tăng cao. Hành động này cũng khuyến khích các NHTM cổ phần cứ cho vay ra với lãi suất cao mà không có điểm dừng, hậu quả lạm phát cao và mất ổn định hệ thống ngân hàng trong thời gian tới vì đến tháng 4/2008 dư nợ tín dụng cho nền kinh tế vẫn tăng ở mức 60,2% so với cùng kỳ năm 2007.

PGS.TS. Lê Quốc Lý - Vụ trưởng Vụ Tài chính - Tiền tệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo (24/06/2008)

 
   
     
 
Thảo luận (1) Thành viên ưa thích (12)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  HoangLy_neu07 (06/04/2009 10:15 PM)  
 
© SAGA - Cảm ơn -  Cảm ơn Saga nhiều nha, em đang rất cần tài liệu này, thanks
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Quy trình tín dụng của ngân hàng
Huy động vốn ngân hàng - Vấn đề tâm lý
Giải pháp 'đầu ra' cho các ngân hàng
Những biện pháp nhằm nâng cao vai trò điều tiết lãi suất của NHNN trên Thị trường tiền tệ
6/5/1951: Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam ra đời
Cơ cấu lại mô hình tổ chức - Hướng đi mới cho Ngân hàng Thương mại
Tỷ giá liên ngân hàng – có phải giá thị trường?
 
 
 
 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.