Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Tổng quan thị trường tài chính | Thị trường sơ cấp | Thị trường thứ cấp | Ngân hàng | Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Thị trường » Ngân hàng

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Quy trình tín dụng của ngân hàng
Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2)
Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại (Bài 3)
Ngân hàng là gì?
Hoạt động Marketing của các Ngân hàng thương mại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng (Phần 1)
Thuê tài chính và những điều doanh nghiệp cần biết
Cách xác định hạn mức tín dụng (phần 2)
Cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng (Phần 2)
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Cục Dự trữ liên bang Mỹ: Ngân hàng Trung ương tư hữu  
  Sự ra đời của ngân hàng trung ương  
  Quy trình tín dụng của ngân hàng  
  Thuê tài chính và những điều doanh nghiệp cần biết  
  Một số biện pháp Kiểm soát tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát và hạn chế rủi ro tín dụng  
  Lịch sử ngành ngân hàng thế giới  
  Cách xác định hạn mức tín dụng (phần 2)  
  Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2)  
  FED - Vì sao quan trọng?  
  ĐCSVN - Ngân hàng Việt Nam trước vận hội và thách thức mới  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: quochoang760  --   19/11/2008 04:13 PM    

Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2)

Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Loạt bài viết về ngân hàng của saganor Đặng Lê Quốc Hoàng

( Bình chọn: 9   --  Thảo luận: 27 --  Số lần đọc: 113254)

1. Ngân hàng trung ương là ngân hàng độc quyền phát hành tiền
   
Với vai trò phát hành độc quyền tiền trên toàn quốc như phương tiện trao đổi, ngân hàng trung ương trực tiếp quản lý cung ứng tiền mặt. Việc quản lý mức độ cung ứng tiền mặt là công cụ thứ nhất giúp ngân hàng trung ương điều tiết mức cung ứng tiền tổng hợp.

Với việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của nền kinh tế.

2. Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng của hệ thống các ngân hàng trung gian

a. Ngân hàng trung ương là trung tâm thanh toán, chuyển nhượng, bù trừ của các ngân hàng trung gian.
   
Vì các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính trong nước đều phải mở tài khoản và kí quỹ tại ngân hàng trung ương nên hoàn toàn thực hiện được vai trò điều tiết thanh toán giữa các ngân hàng giống như những thân chủ mua bán lẫn nhau cùng có một tài khoản ở một ngân hàng. Vai trò này giúp ngân hàng trung ương kiểm soát, theo dõi, quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính trong nước. Mặt khác có thể quản lý được lượng tín dụng ra vào trong hệ thống tài chính vào những thời điểm nhất định.

b. Ngân hàng trung ương là ngân hàng quản lý dự trữ bắt buộc của hệ thống ngân hàng trung gian.
   
Dự trữ bắt buộc là tiền mặt, và tỉ lệ dự trữ bắt buộc tối thiểu là tỉ lệ % tiền mặt trên tổng số tiền mặt do nhân dân gửi vào mà các ngân hàng thành viên phải lưu lại trong kho tiền mặt của ngân hàng hay kí gửi tại ngân hàng trung ương, không được cho vay hết.

Khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên, cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính cũng giảm ngay tức khắc và ngược lại. Bằng cách việc quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc ngân hàng trung ương quản lý một cách chặt chẽ tốc độ và cung ứng tiền ngân hàng của hệ thống ngân hàng trung gian.
   
c. Ngân hàng trung ương là cứu cánh cho vay cuối cùng của hệ thống ngân hàng trung gian.
   
Không có ngân hàng trung gian nào hoặc tổ chức tín dụng nào dám khẳng định rằng trong lịch sử hoạt động của mình chưa hề có lúc kẹt tiền mặt. Những đợt rút tiền ồ ạt của nhân dân ( vì lãi suất thấp, vì lạm phát cao cho nên lãi suất trở thành âm, vì có thể những loại đầu tư khác có lợi cao hơn hoặc vì không đủ tin tưởng vào ngân hàng…) sẽ rất dễ làm cho ngân hàng trung gian vỡ nợ vì không đủ tiền mặt chi trả cho nhân dân. Trong trường hợp như thế khi ngân hàng trung gian không còn chỗ vay mượn nào khác, không thu hồi về kịp những khoản vay về kịp thì nó phải đến ngân hàng trung ương vay tiền như cứu cánh cuối cùng.

Ngân hàng trung ương cho ngân hàng trung gian vay với phương thức gọi là cho vay chiết khấu. Đó là hình thức cho vay qua cửa sổ chiết khấu. Lãi suất của sự cho vay này là lãi suất chiết khấu. Ngân hàng trung ương là ngân hàng duy nhất không thể vỡ nợ hay kẹt tiền mặt, đơn giản vì nó rất mất ít thời gian đẩ in tiền mới. Cho nên nó có thể cho ngân hàng trung gian vay khi có yêu cầu.

Ngân hàng trung gian có thể cho vay hết dự trữ bắt buộc vì khi cần thiết nó có thể vay ngân hàng trung ương với lãi suất cũng giống như vay của nhân dân để thanh toán cho nhân dân. Nhưng giả sử ngân hàng trung ương quy định, tuy lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian là 10%, nhưng nếu ngân hàng trung gian cho vay dưới tỉ lệ dự trữ bắt buộc và phải vay đến ngân hàng trung ương, ngân hàng trung ương sẽ cho vay với lãi suất 12%. Lúc đó ngân hàng trung gian sẽ cân nhắc, nếu nó cho vay dưới tỉ lệ dự trữ bắt buộc với lãi suất chỉ 10% , thì khi kẹt thanh toán nó phải vay lại của ngân hàng trung ương với lãi suất cao hơn. Việc lỗ trông thấy khi vay tiền của ngân hàng trung ương sẽ buộc các ngân hàng trung gian giảm lượng cho vay xuống, hay nói cách khác là giảm lượng cung ứng tiền ngân hàng và tăng dự trữ để giải quyết vấn đề khi dân rút tiền.

Như vậy khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì sẽ làm giảm lượng cung tiền của hệ thống ngân hàng trung gian, tức là giảm lượng cung tiền trong toàn bộ nền kinh tế và ngược lại.
   
Trong vai trò cứu cánh cuối cùng với lãi suất cho mình quy định, ngân hàng trung ương dùng lãi suất chiết khấu để điều tiết lượng tiền cung ứng của hệ thống ngân hàng trung gian và của nền kinh tế. Qua đây ta thấy được đây là một công cụ giúp chính phủ quản lý nền kinh tế một cách vĩ mô.

3. Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng, đại lý và cố vấn cho chính phủ

a. Ngân hàng trung ương là chủ ngân hàng của chính phủ
   
Tùy theo đặc điểm tổ chức của từng nước, chính phủ có thể ủy quyền cho bộ tài chính hay kho bạc đứng tên và làm chủ tài khoản ở ngân hàng trung ương. Hàng quý, hàng năm, tiền thuế thu được và những khoản thu khác của ngân sách được gửi vào ngân hàng trung ương để ngân hàng trung ương sử dụng và trả lãi. Khi chính phủ cần, bộ tài chính hay kho bạc cũng phải làm thủ tục để rút tiền gửi từ ngân hàng trung ương như một khách hàng bình thường.

Khi chính phủ thâm hụt ngân sách, chính phủ có nhiều cách bù vào như: vay của dân bằng cách phát hành công trái, vay của nước ngoài, vay ứng trước thuế, …, và vay của ngân hàng trung ương. Nếu vay của ngân hàng trung ương thì về nguyên tắc có thể thế chấp bằng các loại tài sản mà chính phủ có như: chứng thư chủ quyền tài sản, chứng khoán, vàng… Trong trường hợp chính phủ vay mà không thế chấp thì ngân hàng có quyền từ chối. Nếu ngân hàng trung ương không từ chối được thì nó đành phát hành tiền mặt ngoài dự kiến cho chính phủ làm cho tổng cung về tiền tăng lên và nền kinh tế cũng sẽ biến động theo.

Thông qua vai trò là chủ ngân hàng của chính phủ với nghiệp vụ là cho vay, ngân hàng trung ương làm thay đổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, nghĩa là can thiệp vào những biến động của kinh tế vĩ mô.
   
b. Ngân hàng trung ương là đại lý của chính phủ

Với tư cách là đại lý cho chính phủ, ngân hàng trung ương thay mặt chính phủ tổ chức thu thuế qua hệ thống ngân hàng của nó. Đồng thời nó thay mặt chính phủ trong các thỏa thuận tài chính, viện trợ, vay mượn, chuyển nhượng và thanh toán với nước ngoài. Ngoài ra với tư cách này nó có thể phát hành trái phiếu, cổ phiếu…cho chính phủ kể cả trong và ngoài nước.

Bằng việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu…ngân hàng trung ương đã làm trực tiếp tăng (giảm) lượng cung ứng tiền cho nền kinh tế. Và thông qua đó đã làm tác động đến kinh tế vĩ mô.

c. Ngân hàng trung ương là cố vấn tài chính cho chính phủ

Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động của ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả của chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô.

Với lý do trên ngân hàng trung ương phải tham gia cố vấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế. Với vai trò này ngân hàng trung ương gián tiếp ảnh hưởng đến việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và các hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân sách. Đây là một cách để điều tiết kinh tế vĩ mô.

4. Ngân hàng trung ương là ngân hàng trực tiếp quản lý dự trữ quốc gia
   
Dự trữ quốc gia bao gồm những dự trữ chiến lược cho những trường hợp khẩn cấp như can thiệp vào điều tiết kinh tế, nhập khẩu hàng khẩn cấp để chống khan hiếm và chống lạm phát, khi có thiên tai, chiến tranh…

Dự trữ bao gồm: vàng, tiền tệ, …. Với tư cách là ngân hàng của chính phủ, ngân hàng trung ương được giao phó nhiệm vụ quản lý dự trữ quốc gia. Khi nắm trong tay công cụ này ngân hàng trung ương(NHTU) có thể can thiệt bất kì lúc nào vào thị trường ngoại tệ để giữ giá đồng tiền trong nước, hay tăng hoặc giảm giá. NHTU với nghiệp vụ mua bán trên thị trường vàng và ngoại tệ, nó tạo ra hai tác động quan trọng là thay đổi cung ứng tiền và thay đổi tỉ giá hối đoái của đồng tiền trong nước. Hai điều này tác động đến tổng cầu, sản xuất, thu nhập và giá cả và đương nhiên điều này có tác động đến kinh tế vĩ mô.

5. Vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của ngân hàng trung ương
   
Mọi họat động của ngân hàng trung ương đều ảnh hưởng mật thiết đến cung ứng tiền trong nền kinh tế. Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả, sản lượng quốc gia, do đó một cách gián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế.

a. Ảnh hưởng của cung ứng tiền đến nền kinh tế
   
Sự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền là khoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng và chính sách cung ứng thắt chặt.

Giả sử vào thời điểm ta nghiên cứu, đường cung ứng tiền tương ứng của ngân hàng là LS0 ứng với nhu cầu tiền trong nền kinh tế là LD. Nền kinh tế đạt bình quân tạm thời trên thị trường tiền tệ tại điểm bình quân E0 cho biết: với mức bình quân ấy lượng cung ứng tiền là L0 và lãi suất là R0.

Bây giờ, cho rằng ngân hàng trung ương quyết định thắt chặt cung ứng tiền để hạn chế lạm phát (LS0 tới LS1) trong khi LD vẫn không thay đổi. Chính điều này đã làm cho lãi suất tăng vọt từ R0 đến R1. E0 di chuyển đến E1. Lúc này tiền sẽ khan hiếm hơn (do lượng cung giảm). Tiền khan hiếm thì giá trị của đồng tiền sẽ tăng theo do đó lạm phát sẽ giảm.

Ngược lại, giả sử sau một khỏang thời gian chống lạm phát với cái giá là sự suy thoái (tiền khan hiếm, lãi suất cao bên cạnh đó sự thắt chặt tiền tệ của ngân hàng khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay), ngân hàng trung ương bắt đầu chuyển sang cung ứng tiền nới lỏng. Tổng cung tiền tệ tăng từ LS1 lên LS2, cắt LD tại E2, lúc này lượng tiền tệ tăng lên L2 và lãi suất giảm xuống còn R2. Lúc này thì nền kinh tế phải đối mặt với thách thức mới là lạm phát có thể gia tăng (do có quá nhiều tiền trong lưu thông). Vì thế cho nên mỗi lần áp dụng mức lãi suất hay lượng cung ứng tiền ngân hàng trung ương phải đắn đo suy nghĩ những tác hại thiệt hơn cho mỗi chính sách tiền tệ

bai2_hinh1.jpg


Chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn. Điều này kích thích tiêu dùng cho cuộc sống và cho đầu tư nhiều hơn. Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng, tuyển mộ thêm công nhân, giảm thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân. Nền kinh tế tăng trưởng với giá cả tăng cao hơn trước.

Chính sách cung ứng tiền thắt chặt làm cho chi phí để có tiền cao hơn và tiền trở nên khan hiếm. Sản xuất thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu và đầu tư, điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ. Cái giá phải trả là sản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.

Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hành trung ương. Khi ngân hàng trung ương điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiết nền kinh tế.

b. Mục tiêu và phương thức điều tiết kinh tế vĩ mô bằng cung ứng tiền của ngân hàng trung ương.

Mục tiêu:

-    Chính sách tiền tệ phải phục vụ cho mục đích đảm bảo cho nền kinh tế có tăng trưởng, tức là giảm thất nghiệp, gia tăng thu nhập quốc dân và mở rộng tiềm năng sản xuất, chống suy thoái…

-    Chính sách tiền tệ phải hướng về ổn định giá cả: Giá cả có lạm phát thấp là mục tiêu của mọi nền kinh tế vì mức tăng thu nhập thực tế của nhân dân sẽ dương, do đó đời sống của người lao động sẽ tốt hơn và người dân sẽ tin chính phủ hơn. Sản xuất sẽ có vốn với chi phí hạ và nền kinh tế sẽ có sức bật về đầu tư lâu dài, giá trị đồng tiền nội địa sẽ ổn định.

-    Phải tạo cho nền kinh tế có một nền tảng tài chính ổn định: Nền tảng tài chính ổn định được hiểu là bằng chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương phải ổn định họat động tài chính của hệ thồng tài chính trong nước một cách gián tiếp… hướng quản lý các họat động của nó phù hợp với các mục tiêu kinh tế. Làm hài hòa các lợi ích của các tổ chức tài chính để nó phục vụ tốt nhất cho lợi ích chung của cả nền kinh tế.

-    Góp phần mở rộng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế: Các tiềm năng như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực con người… mục tiêu cuối cùng của chính sách là khai thác và phát triển các ngưồn lực một cách có hiệu quả nhất.

Các phương thức điều tiết kinh tế vĩ mô bằng điều tiết cung ứng tiền của ngân hàng trung ương.

a. Mục tiêu trung gian trong điều tiết kinh tế thông qua điều tiết cung ứng tiền

Khi xem xét mục tiêu trung gian (lãi suất,dự trữ,tỷ giá) trong họat động điều tiết kinh tế vĩ mô của ngân hàng trung ương, thì những mục tiêu này thực chất chỉ là phương tiện giúp cho ngân hàng trung ương đạt được mục tiêu là điều tiết nền kinh tế. Xét về ngắn hạn lãi suất, dự trữ, tỷ giá thay đổi ảnh hưởng một cách nhanh chóng đến tiêu dùng và đầu tư và đến nền kinh tế. Từ đó về mặt ngắn hạn các nhà kinh tế học xem ba tác nhân trên là những mục tiêu trung gian. 
 
•    Lãi suất

Lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa khỏan tiền ngưởi vay trả cho người cho vay trên tiền vốn trong một khoảng thời gian nhất định như 1 năm, 1 tháng.

 bai2_hinh2.jpg


bai2_hinh3.jpg


Giả sử lúc đầu lãi suất của thị trường tiền tệ là R0, ở mức lãi suất này nhu cầu tiêu dùng của nhân dân là AD0 và sản lượng quốc gia là Y0.

Bây giờ cho rằng ngân hàng trung ương và chính phủ quyết định nâng lãi suất để giảm lạm phát. Lãi suất cao hơn làm cho việc vay tiền trở nên khó khăn hơn do thế sản xuất không dám tiêu dùng nhiều vốn và sản xuất có xu hướng giảm sút. Do lãi suất cao nên người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và nhu cầu tiêu dùng giảm xuống. Đường cầu AD0 dịch chuyển đến AD1. Tiêu dùng và đầu tư giảm làm giá cả giảm từ P0 xuống P1, sản lượng tụt xuống Y1 và nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái.

Ngược lại khi lãi suất hạ xuống R2, sản xuất sẽ tiêu dùng nhiều vốn hơn, sản xuất được đẩy mạnh, lãi suất thấp người tiêu dùng sẽ tiết kiệm ít hơn và đầu tư và chi tiêu nhiều hơn do đó cầu sẽ tăng lên. Giá cả cũng sẽ tăng và sản lượng quốc gia do đó cũng tăng lên.

•    Dự trữ

Khi ngân hàng trung ương sử dụng tỷ lệ dữ trự bắt buộc như một công cụ, nó tác động trực tiếp đến cung ứng tiền. Lúc đó dự trữ bắt buộc là công cụ mà cung ứng tiền là mục tiêu.

Khi ngân hàng trung ương không sử dụng cách điều tiết trực tiếp bằng việc áp đặt tỷ lệ dựtrữ bắt buộc, nó có thể tác động đến dự trữ bắt buộc bằng cung ứng tiền. Đó là cách điều tiết gián tiếp. Bằng việc bán chứng khoán ra để thu tiền về (giảm lượng tiền trong lưu thông, tiền từ đó khan hiếm dần), từ đó mà lãi suất tăng lên và làm giảm việc cho vay. Khi ngân hàng trung ương xuất tiền ra để mua chứng khóan (tăng cung ứng tiền cho nền kinh tế, tiền dễ dàng để có hơn) do đó làm giảm lãi suất, tăng khả năng cho vay. Trong trường hợp này cung ứng tiền là công cụ mà dự trữ là mục tiêu.

•    Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái được xem là giá của một đồng tiền trên sự so sánh với một đồng tiền nước khác ( kí hiệu là E ).
  
Bằng việc thay đổi cung ứng tiền, ngân hàng trung ương có thể làm tăng hay giảm giá đồng tiền nội địa so với nước ngòai. Khi ngân hàng trung ương tăng cung ứng tiền từ LS0 lên LS2, có quá nhiều đơn vị tiền nội địa trong sự so sánh với nước ngoài, hay nói cách khác chỉ cần ít tiền nước ngoài hơn để đổi lấy một đơn vị đồng nội tệ, do vậy giá trị đồng tiền trong nước giảm từ RV0 xuống RV2 ( tỉ giá trao đổi từ E0 lên E2 ). Trong trường hợp ngược lại, khi ngân hàng trung ương thắt chặt tiền tệ, giảm cung ứng tiền xuống còn LS1, đồng tiền trong nước trở nên khan hiếm hơn và từ đó giá trị đồng tiền trong nước tăng lên đến RV1. Tỉ giá trao đổi giảm xuống E1.

Hay cũng có cách khác, là cách như Hoa Kì làm trong năm 1995. Hoa Kì bán ngọai tệ để rút tiền nội địa về (thu hẹp cung ứng tiền) nhằm tăng giá đồng tiền nội địa. Và bán đồng nội tệ để mua ngoại tệ (tăng cung ứng tiền) nhằm giảm giá đồng nội tệ.

Khi đồng tiền trong nước bị mất giá (tức là với một đơn vị ngọai tệ có thể đổi nhiều đồng nội tệ hơn) lúc đó sẽ làm gia tăng xuất khẩu (bán hàng ra nước ngòai và thu tiền về bằng ngọai tệ, khi đổi ra nội tệ sẽ có lợi hơn do đồng nội tệ đã mất giá hơn trước ), do đó sẽ làm tăng GDP. Và khi đồng tiền nội tệ tăng giá sẽ làm tăng nhập khẩu.

Do những lý do trên tỉ giá hối đoái có tác động đến kinh tế vĩ mô và nắm được tỉ giá hối đoái này chính phủ cần ngân hàng trung ương điều tiết lượng cung ứng tiền. 

b. Các công cụ điều tiết

•    Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở có 2 lọai: được phép mua bán chứng khóan vào những thời điểm nhất định sau khi nghiệp vụ được tiến hành và lọai không được phép mua bán lại.

Khi ngân hàng trung ương đem chứng khóan ra thị trường mở để bán nó thu tiền hay séc về, cho nên:

1. Giảm lượng cung tiền mắt trong lưu thông từ đó giảm khả năng cho vay của các ngân hàng trung gian.

  2.Khi ngân hàng trung gian mua chứng khóan của ngân hàng trung ương thì dự trữ tiền của nó sẽ giảm xuống và khả năng cung ứng tiền của nó bị thắt chặt.

3. Lượng chứng khoán tăng lên, chứng khoán trở nên thừa và giá của nó sẽ giảm xuống, lãi suất của nó sẽ tăng lên. Lãi suất chứng khoán tăng lên buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất để tránh tình trạng người dân rút tiền ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào chứng khoán. Lãi suất ngân hàng tăng làm lượng tiền cung ứng giảm và do đó tiền trở nên khan hiếm, do đó tỉ giá và giá cả hàng hóa giảm xuống. Và ngược lại khi ngân hàng trung ương ra thị trường mở để mua chứng khoán.

Như vậy khi ngân hàng trung ương thực hiện nghiệp vụ bán, nó thắt chặt cung ứng tiền, tăng lãi suất, giảm tỉ giá và giá cả hạ xuống và ngược lại khi thực hiện nghiệp vụ mua.

•    Lãi suất cho vay chiết khấu

Được ngân hàng trung ương quyết định trong cả hai trường hợp:

1. Cho vay bình thường với kí quỹ khi ngân hàng trung gian kẹt thanh tóan.

2. Cho vay dưới hình thức cứu cánh cuối cùng.

Lãi suất cho vay chiết khấu có cả hai tác dụng: trực tiếp và gián tiếp. Tác động gián tiếp là nó làm tăng, giảm lãi suất cho vay của ngân hàng trung gian và do đó tác động đến cung ứng tiền và tín dụng. Tác động trực tiếp là nó làm tăng hay giảm dự trữ của ngân hàng trung gian và do đó tác động đến lượng cho vay tiêu dùng và đầu tư trong kinh tế.

Khi ngân hàng trung ương tăng lãi suất chiết khấu thì đó là biến cố quan trọng. Lãi suất tăng khiến ngân hàng trung gian không thể vay mượn của ngân hàng trung ương nhiều và dễ dàng như trước. Do đó nó phải giảm lượng cho vay và hậu quả là tổng cầu và sản lượng giảm theo. Điều này cũng làm cho ngân hàng trung gian ý thức rằng khi cần vay thì ngân hàng trung gian phải trã lãi suất cao, do đó ngân hàng trung gian sẽ từ từ nâng lãi suất của mình để khỏi thiệt hại nặng khi phải vay của ngân hàng trung ương. Lãi suất tiếp tục thắt chặt lượng cung tiền và tác động đến nền kinh tế. Và ngược lại khi giảm lãi suất chiết khấu.

•    Dự trữ bắt buộc

Sự thay đổi trong tỉ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lượng cung của tiền và ảnh huởng sâu sắc đến nền kinh tế.

•    Chính sách tiền mặt

Ngòai việc có thể thay đổi cơ số tiền thông qua nghiệp vụ thị trường mở và cho vay chiết khấu ngân hàng trung ương có thể có những cách khác như:

Khi ngân hàng tung tiền mặt ra mua ngọai tệ trên thị trưởng ngọai tệ, tức khắc nó làm tăng giá trị của đồng ngọai tệ (ngọai tệ trong lưu thông ít đi, lượng tiền nội tệ thì tăng thêm ), nâng tỉ giá lên cao. Cung ứng tiền nội tệ tổng thể lập tức bành trướng sau đó và ngược lại khi bán ngọai tệ.
Khi ngân sách chính phủ thâm hụt nó sẽ cho chính phủ vay, lượng tiền mặt nó cho vay làm tăng lượgn tiền trong lưu thông và tăng cung ứng tiền trong nền kinh tế thông qua việc chi tiêu của chính phủ.

---------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. LÊ VINH DANH, Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của ngân hàng trung ương, NXB Chính Trị Quốc Gia, (1996) [32- 66]
 
2. NGUYỄN NINH KIỀU, Tiền tệ - ngân hàng, NXB Thống Kê, (1998) [75-85]

3. TRẦN VĂN HÙNG, NGUYỄN TRÍ HÙNG, TRƯƠNG QUANG HÙNG, NGUYỄN THANH TRIỀU, CHÂU VĂN THÀNH, Giáo trình Kinh Tế Vĩ Mô, NXB GIÁO DỤC, (1999) [156-162] & [166-177]

4. GS. TS. DƯƠNG THỊ BÌNH MINH, TS. SỬ ĐÌNH THÀNH, Lý thuyết tài chính tiền tệ, NXB Thống Kê, (2001) [235-274]

5. GS.TS. LÊ VĂN TƯ, Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính, NXB TK, 2001.

6. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HCM, KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ, Kinh tế chính trị Mác - Lê Nin, phần II, (2006)

7. GS.TS LÊ VĂN TƯ, Ngân hàng thương mại , Nxb Tài Chính, [2004]

8. www.sbv.gov.vn         ( Trang web của Ngân hàng nhà nước Việt Nam )  

9. www.mof.gov.vn              ( Trang web của Bộ Tài chính )




Mời các bạn đón theo dõi 2 bài viết tiếp theo của loạt bài về ngân hàng:

Bài 3: Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại

© www.saga.vn | Đặng Lê Quốc Hoàng

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 39/ 9 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 17)
  trung14791 (06/10/2011 10:25 AM) Có ích: 0/0    
 
e thấy bài viết này rất hay và đầy đủ.Anh có thể giải đáp giúp e một số câu hỏi được không ak?
1.NHTW can thiệp vào tỷ giá trên thị trường bằng con đường nào?
2.NHTW lấy nguồn ngoại tệ từ đâu để bán cho các tổ chức tín dụng?
3.NHTW rút tiền tư lưu thông về bằng kênh nào?
em sắp thi lý thuyết TCTT nên nhờ a giả đáp giúp.
 
   
     
  hungquanggl (26/11/2010 07:32 PM) Có ích: 0/0    
 
anh hoàng có thế viết bài về NHTm đc hok anh?
tại sao NHTM tạo ra tiền mà hok tạo ra tiền tối đa đc Zj?
anh trả lời jum em cái  thank anh nhìu.......

 
   
     
  hungquanggl (26/11/2010 07:24 PM) Có ích: 0/0    
 
có pác nào có những tài liệu về Ngân hàng thương mại hem?PM vào YH em cái
với lại ai bít trả lời câu này hộ em cái:tại sao nói Ngân hàng TM có thể tạo ra tiền nhưng ko tạo ra tiền tối đa đc?Vho VD hộ em lun.......thank .......trước.
 
   
     
  playintheair27 (05/03/2009 11:18 AM) Có ích: 1/1    
 
Trong quá trình thực hiện vai trò và chức năng của mình Ngân hàng trung ương đồng thời kiểm soát lãi suất liên ngân hàng thông qua việc thực hiện mô hình kết hợp sử dụng nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất tái cấp vốn. Vậy tôi mong bạn giúp đỡ để làm rõ hơn vai trò của NHTW trong trường hợp này.

Bạn có thể lấy ví dụ cụ thể, chỉ rõ tác động của việc NHNNVN áp dụng mô hình này trong năm 2008 ( đặc biệt trong thời kỳ tháng 3/2008 và tháng 5/2008).
 
   
     
  nguyenvany1248 (10/02/2009 12:32 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Việc nhạy cảm -  Việc NHTW cũng có những "chuyển động" mang tính lợi nhuận là một thực tế không thể phủ nhận nếu phân định bằng hai chữ "Lợi, hại" các bạn ạ.

Nhưng giải thích theo chính sách thì đây chỉ là chuyện nhỏ, lợi ích to lớn là những gì mà ai trong chúng ta cũng đã nhìn thấy ...

Thật khó để có những quyết định hoàn hảo...

 
   
     
  quochoang760 (04/12/2008 09:21 AM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - Tập trung tiền vào một ngân hàng -  @crazyprokk411:

Phải tập trung quyền lực phát hành tiền vào 1 ngân hàng duy nhất vì:

1.Dễ kiểm soát được lượng tiền phát hành ra, dễ quản lý.

2.Nếu ngân hàng nào cũng dc phát hành tiền thì các ngân hàng đâu còn muốn dân gửi tiết kiệm vào làm gì vì tự ngân hàng đã có tiền để cho các doanh nghiệp vay.

3.Phát hành tiền là dựa trên nhu cầu của nền kinh tế, nếu để cho các ngân hàng tự phát hành tiền thì sẽ gây ra tình trạng hỗn lọan thừa thiếu tiền trong nền kinh tế.

4.Theo mình biết thì để có tiền lưu thông thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đặt hàng làm tiền bên ngoài Việt Nam vì nước mình chưa đủ công nghệ để làm với lại liên quan đến an ninh khi sản xuất tiền, ở nước ngòai họ có công nghệ và an ninh tốt hơn. Như vậy thực chất có 1 ngân hàng phát hành tiền là do nhà nước đem tiền được làm từ nước ngoài về và để ở kho ngân hàng nhà nước và ngân hàng nhà nước dưới sự kiểm soát của chính phủ phát hành ra ( thực chất là đem tiền đi lưu thông) chứ ko phải NHNN tự sản xuất ra tiền.

Như vậy thì cần gì nhiều ngân hàng phát hành tiền vì thực chất tiền đó được đem về từ nước ngòai mà, nếu có nhiều ngân hàng phát hành tiền thực chất chẳng qua là đem trứng mà để ở nhiều giỏ mà thôi.

Có lẽ bản chất của vấn đề năm ở đây.

Hi vọng câu trả lời của mình làm bạn hài lòng. Nếu có gì thì chúng ta thảo luận nhé.
 
   
     
  crazyprokk411 (03/12/2008 10:56 PM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - Mong được giúp đỡ -  Đọc qua bài của anh, em cảm thấy kiến thức của mình được củng cố thêm phần nào. Em đang chuẩn bị cho kỳ thì liên thông nên em có câu hỏi này mong anh giúp đỡ: "Tại sao phải tập trung quyền lực phát hành tiền vào một ngân hàng duy nhất?"
 
   
     
  Vicky_39 (24/11/2008 05:11 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Trao đổi thêm -  Chào bạn, mình dạo này rất bận nên chắc không viết dài được, chỉ xin vắn tắt thế này:

Đối với LD, vì lãi suất là biến nội sinh cho nên khi lãi suất thay đổi thì sẽ gây nên sự trượt dọc trên LD chứ không làm dịch chuyển LD. Như bạn vẽ trên đồ thị: E0 tịnh tiến đến E1 chẳng hạn.

Đường LS thẳng đứng không có nghĩa là nó không liên quan đến lãi suất. Lãi suất là biến ngoại sinh của LS, mà đã là biến ngoại sinh thì sự thay đổi của lãi suất sẽ gây nên sự dịch chuyển của LS. Khái niệm một điểm trượt dọc trên 1 đường hoàn toàn khác với khái niệm dịch chuyển một đường.

Còn như bạn nói: việc Ngân hàng TW kiếm lợi nhuận là có lý, nhưng theo mình nó không nên được xét đến trên mô hình tổng quát.

Có gì sai sót mong được mọi người chỉ giáo.

Thân ái!
 
   
     
  quochoang760 (24/11/2008 12:05 AM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - Trao đổi thêm -  @Vicky: Cảm ơn bạn về việc chia sẽ những kiến thức của mình, tớ xin đưa ra quan điểm của tớ, có gì cậu sửa sai nhé:

1. Về đường LS, tớ thấy cậu nói cũng có lý nhưng có 1 vấn đề cần làm rõ là: Khi LS thẳng đứng tức là LS là một hằng số, tức là nó không có quan hệ gì với lãi suất. Xem ra không thuyết phục lắm, cho dù là lãi suất danh nghĩa đi chăng nữa thì không có lý do gì mà lượng cung tiền không liên quan đến lãi suất.

2. Về việc NHTW mua đô la, cậu nói là "tăng dự trữ ngoại tệ và tạo lực đẩy giá USD lên giúp thuận lợi cho xuất khẩu mặc dù phải đánh đổi bằng việc giá hàng nhập khẩu tăng lên góp phần vào sự gia tăng lạm phát ... Chứ điều đó không liên quan đến việc NHNN kiếm lợi nhuận." Cậu nói cũng có lý, nhưng lần trước tớ trả lời cậu là tớ muốn chứng minh rằng NHTW không phải là tổ chức phi lợi nhuận và các hoạt động của nó cũng mang tính chất kinh tế chứ không đơn thuần chỉ là điều tiết thị trường. Vì bởi lẽ nó nắm giữ rất nhiều tiền, mà tiền của quốc gia để không thì nó phí và gây gia tăng chí phí lưu trữ, thế cho nên NHTW cũng mang tính chất là một tổ chức có lợi nhuận. Không biết ý kiến của tớ có chính xác không, nếu sai thì xin mọi người cho ý kiến ạ.
 
   
     
  quochoang760 (23/11/2008 11:34 PM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - Gửi bạn phantruongthanh -  Nghe em nói là anh biết em đang học năm 2 và cần làm đề tài môn Kinh tế chính trị phần 2 rồi. Anh học trường kinh tế luôn, anh năm nay là năm 3 khoa Tài Chính Doanh Nghiệp. Bài này cũng là đề tài tiểu luận của anh hồi đó.

Em vào thư viện trường mình mà muợn sách, có nhiều sách hay lắm, trường mình viết về kinh tế thì tuyệt rồi. Ngày xưa anh tòan mượn sách ở đó để làm không đó em.

Anh sợ kiến thức của mình không đủ để giúp em đâu, chắc ăn nhất là em vào thư viện mượn sách mà làm đề tài ấy.

Mến.
 
   
     
  Vicky_39 (22/11/2008 04:05 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Gửi bạn Hoàng -  Mình cũng đã từng học chút ít kiến thức sơ đẳng về tài chính khi ở Việt Nam và sẽ định học chuyên sâu về tài chính nên quan tâm đến các bài viết về chuyên đề này. Cảm ơn bạn đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu viết bài.
Nhân đây mình cũng xin nói thêm là:

1.Theo những gì mình được học thì đồ thị thị trường tiền tệ tập trung biểu diễn chức năng điều tiết cung tiền của NHTW và tác động của nó lên lãi suất danh nghĩa chứ không đề cập đến chuyện NHTW kiếm lợi nhuận. Lãi suất là biến nội sinh đối với cầu tiền trên thị trường tiền tệ chứ không phải đối với cung tiền LS. Cho nên khi lãi suất thay đổi, lượng cầu tiền thay đổi và để bình ổn lãi suất thì LS sẽ dịch chuyển tương ứng. Nói một cách tổng quát, đường LS sẽ đứng thẳng.

2.Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mua USD khi giá USD xuống theo mình có thể là nhằm tăng lượng dự trữ ngoại tệ và tạo lực đẩy giá USD lên giúp thuận lợi cho xuất khẩu mặc dù phải đánh đổi bằng việc giá hàng nhập khẩu tăng lên góp phần vào sự gia tăng lạm phát. Chứ điều đó không liên quan đến việc NHNN kiếm lợi nhuận.

Cũng có thể bạn được học khác mình chăng? Có gì mong bạn trao đổi thêm. Cảm ơn bạn nhiều nhé!
 
   
     
  quochoang760 (22/11/2008 02:05 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Kiếm lợi đâu đây -  Vicky_39: Cảm ơn bạn vì những đóng góp ý kiến. Những bài viết cùa mình luôn có sự đóng góp của bạn. Cảm ơn nhiều nhé.

1. NHTW không phải là tổ chức phi lợi nhuận. 2. Nó cũng kiếm lợi từ việc cho vay đối với NHTM (lãi suất và lãi suất chiết khấu - phần bài viết của mình cũng đề cập đến vấn đề này ) 3. lạm phát tăng cao vừa qua cũng có sự đóng góp của NHTW khi nó tung tiền ra để mua USD vào khi giá USD đang xuống, qua việc này ta thấy nó không phải là tổ chức ăn không ngồi rồi mà cần làm việc và tạo lợi nhuận tuy ở mức độ khác với NHTM. 4. Ngày nay các doanh nghiệp nhà nước cũng kinh doanh chứ, và NHTW cũng thế thôi.

Hi vọng câu trả lời của mình không làm bạn thất vọng.

Hi vọng bạn và mọi người thường xuyên đóng góp ý kiến cho mình để giúp mình hoàn thành bài viết tốt hơn và làm gia tăng kiến thức cho mình. Cảm ơn mọi người nhiều ạ.

 
   
     
  Vicky_39 (22/11/2008 10:52 AM) Có ích: 4/4    
 
© SAGA - Trao đổi thêm -  LS thẳng đứng không có nghĩa là lãi suất bao nhiêu cung tiền của NHTW cũng thế. Khi lượng cung tiền thay đổi, LS sẽ dịch chuyển bạn ạ, do đó lãi suất danh nghĩa cũng thay đổi theo.

LS như bạn vẽ nếu mình không nhầm thì là đường cung vốn trên thị trường vốn chứ không phải đường cung tiền trên thị trường tiền tệ. Bởi vì trên thị trường vốn vay, lượng cung vốn tỉ lệ thuận với lãi suất. Còn như bạn vẽ và giải thích với mình thì chả lẽ NHTW cung tiền để thu lợi khi lãi suất tăng cao hay sao? Mình cảm thấy hình như bạn đang nhầm lẫn thị trường tiền tệ và thị trường vốn với nhau.
Mong bạn xem xét và cho ý kiến. Cảm ơn tác giả.
 
   
     
  quochoang760 (21/11/2008 11:51 PM) Có ích: 4/4    
 
© SAGA - Góp ý với bạn -  @Vicky_39 : Khi lãi suất càng cao thì người ta càng muốn cho vay để thu lợi nhiều hơn, cũng giống như giá hàng hóa càng cao thì người bán muốn bán càng nhiều càng tốt và ở đây cũng thế. Do đó LS không thể thẳng đứng.

LS thẳng đứng tức là: với lãi suất là bao nhiêu đi nữa thì lượng cung ứng tiền của NHTW vẫn thế, điều này trái với chức năng điều tiết thị trường tiền tệ của NHTW.
 
   
     
  tienvu1st (21/11/2008 11:02 PM) Có ích: 4/4    
 
© SAGA - Về đường 45 -  Đường 45 là đường tổng sản lượng GDP. Nó có độ dốc = 1. Đường 45 độ cho phép xác định sản lượng cân bằng tại một mức giá nhất định.
 
   
     
  Vicky_39 (21/11/2008 10:51 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Gửi anh Trí Dũng -  Theo những gì em biết thì cái đồ thị có đường 45 độ trong kinh tế vĩ mô là đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa đường tổng chi tiêu AE và GDP.

Em cũng có một điều thắc mắc là: hình như đường LS đứng thẳng, do việc thay đổi cung ứng tiền tệ của NHTW không liên quan đến lãi suất danh nghĩa. Em cũng không chuyên lắm về mấy cái này và học cũng khá lâu rồi nên không biết có chính xác không. Mong mọi người giải đáp giúp em.
 
   
     
  zTranTriDung (21/11/2008 09:44 PM) Có ích: 2/2    
 
© SAGA - Vì sao lại thế -  Xin cho tôi hỏi, vì sao trong đồ thị Thị trường hàng hóa lại có đường 450? Mong mọi người giải đáp giúp. Cám ơn nhiều.
 
   
     
 
Thảo luận (10) Thành viên ưa thích (12)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  HoangLy_neu07 (11/03/2009 09:15 PM)  
 
© SAGA - Chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương -  Mình có đề tài tìm hiểu về chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương. Ai có tài liệu liên quan thì chỉ cho mình với. Mình sắp phải thuyết trình rồi. Mình cảm ơn nhiều lắm lắm!
 
   
     
  phantruongthanh (24/11/2008 08:10 PM)  
 
© SAGA - Cảm ơn anh quochoang760 -  tHì, thì ra vậy. Nhưng đọc sách thì vẫn không hơn, bởi vì những gì anh đã chắ lọc ra mà. Cảm ơn anh nha, em cảm ơn anh nhiều lắm đó. Em đang bù đầu với nó đây.
 
   
     
  phantruongthanh (23/11/2008 10:09 PM)  
 
© SAGA - Thanks quochoang760 -  Em nói thật là do em đang viết tiểu luận, hiện em học Đại học Kinh Tế HCM. Đề tài: "quá trình hình thành và phát triển ngân hàng thương mại Việt Nam". Ah, mà hiện nay anh đang làm gì vậy? Hi, em cần học hỏi ở anh nhiều.
 
   
     
  zVuong (22/11/2008 11:24 AM)  
 
Giải đáp cho TranTriDung: 45 là độ cồn người vẽ hình sử dụng trong lúc vẽ.
 
   
     
  quochoang760 (21/11/2008 11:29 PM)  
 
© SAGA - Gửi phantruongthanh -  Anh gửi rồi đó em nhưng bài chưa được hiện lên trên hệ thống. Em đang làm gì mà cần gấp thế?
 
   
     
  Vicky_39 (21/11/2008 10:35 PM)  
 
© SAGA - Cảm ơn bạn -  Bài viết này tổng hợp được rất nhiều kiến thức bổ ích. Cảm ơn bạn!
 
   
     
  phantruongthanh (21/11/2008 10:16 PM)  
 
Mong anh Hoàng nhanh nhanh viết bài 3 cho em tham khảo với.Mong anh nói rõ về kinh nghiệm hoạt động của ngân hàng thương mại và đặc điểm của ngân hàng thương mại.Cảm ơn anh nhiều lắm!
 
   
     
  quochoang760 (21/11/2008 06:01 PM)  
 

@sagapedia: Mình chỉ biết câm nín chứ không biết nói gì luôn.
@Hungvymeo: Cảm ơn bạn.

 
   
     
  sagapedia (21/11/2008 05:21 PM)  
 
Thử tìm là ra bạn với xê-ri này. Vui ghê đấy. Tìm Quốc Hoàng.
 
   
     
  Hungvymeo (21/11/2008 04:50 PM)  
 
© SAGA - Review -  Cảm ơn bạn vì đã hệ thống lại các chức năng của Ngân hàng trung ương và các tác động của nó đến nền kinh tế.
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại (Bài 3)
Những vấn đề lý luận về ngân hàng (Bài 1)
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Những vấn đề lý luận về ngân hàng (Bài 1)
Tình hình ngân hàng năm 2008 và dự báo 2009
Ngân hàng thương mại tại Việt Nam: Nhiều hay ít?
Điều chỉnh lãi suất tiền vay
Một số lợi ích của nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu
Cục Dự trữ liên bang Mỹ: Ngân hàng Trung ương tư hữu
Nói tiếp chuyện phí ATM
 
 
 
 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.