Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Tài trợ vốn ngắn hạn | Tài trợ vốn dài hạn | IPO | Quản trị tín dụng/tiền mặt | Mô hình hóa/Dự báo | Rủi ro & quản trị rủi ro | Quản trị khủng hoảng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Qui hoạch » Rủi ro & quản trị rủi ro

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Phân tích rủi ro tín dụng của Ngân hàng
Quản lý rủi ro tài chính
Rủi ro lãi suất
Due Diligence - Đánh giá với trách nhiệm cao nhất
Quản trị rủi ro tín dụng thể nhân: Thế nào và lúc nào?
Bài học từ vấn đề PR của Tiger
Ứng xử trước rủi ro
Mô hình đo lường rủi ro chứng khoán
NASD: Những sai lầm trong đầu tư chứng khoán
Lý thuyết đánh giá tín dụng thể nhân (P.1)
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Due Diligence - Đánh giá với trách nhiệm cao nhất  
  Quản trị rủi ro tín dụng thể nhân: Thế nào và lúc nào?  
  Phân tích rủi ro tín dụng của Ngân hàng  
  Mối quan hệ bất động sản và kinh tế vĩ mô  
  Bài học từ vấn đề PR của Tiger  
  Ứng xử trước rủi ro  
  NASD: Những sai lầm trong đầu tư chứng khoán  
  Mô hình đo lường rủi ro chứng khoán  
  Quản lý rủi ro tài chính  
  Rủi ro lãi suất  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: quinquin  --   12/07/2009 09:54 PM    

Quản lý rủi ro tài chính

( Bình chọn: 3   --  Thảo luận: 3 --  Số lần đọc: 28331)

Ths. Trần Tuyết Nhung
Trung tâm Thông tin tín dụng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam


Saga_2706_Taichinh2.gifwww.SAGA.vn - Mục đích của quản lý tài chính là để tăng cường lợi nhuận của các ngân hàng và tăng giá trị của ngân hàng trên thị trường. Tuy nhiên, chiến lược nhằm vào mục đích tăng lợi nhuận cũng có nghĩa là phải chấp nhận nhiều rủi ro, vì vậy những nhà quản lý phải theo đuổi mục đích lợi nhuận theo cách thức phải đảm bảo khả năng thanh toán và hạn chế được những rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, và rủi ro về kinh doanh ngoại tệ. Để đạt được cùng lúc được hai mục tiêu là năng cao lợi nhuận và quản lý rủi ro, hầu hết các ngân hàng thượng mại trên thế giới đều thành lập Ban quản lý tài sản nợ_có. Ban này bao gồm chủ tịch ngân hàng, giám đốc và những người điều hành bộ phận như quản lý tài sản có (quản lý việc cho vay trong nước và quốc tế), quản lý tài sản nợ (quản lý việc thu hút tiền gởi) và phân tích tình hình kinh tế của ngân hàng. Ban quản lý tài sản nợ_có sẽ chịu trách nhiệm đưa ra các chiến lược cho vay và thu hút tiền gửi. Ban này sẽ họp vài lần trong một tháng để thảo luận và đưa ra chiến lược nhằm nâng cao lợi nhuận và không phải chịu nhiều rủi ro.

Vấn đề chủ chốt mà Ban quản lý tài sản nợ có cần quan tâm xem xét đó là sự chênh lệch về lãi suất giữa lãi suất cho vay (lãi suất được thu từ việc cho vay và kinh doanh các tài sản có khác) và lãi suất huy động vốn (lãi suất trong việc gửi tiền và vay nợ khác). Sau khi xem xét bảng cân đối tài sản những quy định pháp lý trong hoạt động ngân hàng, mức độ cạnh tranh với các ngân hàng khác, tình hình kinh tế nói chung, xem xét các đơn xin vay vốn, tình hình huy động vốn hiện tại, Ban này sẽ ra quyết định về việc định giá các khoản cho vay, cụ thể là các quyết định về lãi suất cơ bản đối với một số khoản vay và liệu nên đưa ra lãi suất cố định hay thả nổi đối với các khoản vay. Hơn nữa, Ban này sẽ đưa ra những cách thức huy động vốn hướng tới việc kinh doanh tài sản có. Điều này sẽ được thực hiện thông qua việc thay đổi lãi suất huy động và mở rộng chiến lược cho vay, tiếp cận khách hàng trên thị trường. Mục tiêu là đảm bảo sự chênh lệch giữa lãi suất thực dương giữa tài sản có và tài sản nợ, nghĩa là lãi suất cho vay phải cao hơn lãi suất huy động, đảm bảo cho việc kinh doanh có lãi. Nếu lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy động, thu nhập ngân hàng sẽ giảm và vốn của ngân hàng cũng giảm theo. Nếu việc này kéo dài, ngân hàng sẽ lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán.

Mọi quyết định do Ban này đưa ra se ảnh hưởng trực tiếp đén tài sản nợ và tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng và để hạn chế rủi ro ngân hàng ở mức độ chấp nhận được, đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài của ngân hàng. Việc quản lý rủi ro tài chính được thực hiên thông qua đánh giá các khoản vay, đánh giá khách hàng vay vốn.

Việc đánh giá này dựa trên năm yếu tố cơ bản:

- Khả năng hoàn trả khoảng vay: Khả năng của khách hàng trong việc hoàng trả khoản vay.

- Đặc điểm khách hàng: Khả năng lãnh đạo hoạt động kinh doanh cũng như mức độ sẵn lòng hoàn trả khoản vay của những người quản lý doanh nghiệp.

- Vốn: Sức mạnh về tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm vay vốn.

- Thế chấp: Tài sản và mức độ thanh khoản (chuyển thành tiền mặt) của tài sản người vay dùng để đảm bảo khoản vay.

- Điều kiện: Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả vốn của khách hàng, đó là điều kiện hiện tại về tình hình kinh tế, về cơ cấu thị trường, mức độ cạnh tranh và một số yếu tố khác mà vượt quá sự kiểm soát của khách hàng vay vốn.

CreditRisk_saga.jpg



I. ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐƯỢC NĂM YẾU TỐ TRÊN ĐÂY, NGƯỜI QUẢN LÝ NGÂN HÀNG CẦN PHẢI THỰC HIỆN CÁC VẤN ĐỀ SAU:


- Nhận thức và tham gia một cách nghiêm túc vào việc định giá và đánh giá khoản vay.

- Thực hiện giám sát đầy đủ

- Xúc tiến mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng

- Quản lý tài sản có một cách chủ động

1. Nhận thức và tham gia một cách nghiêm túc vào việc định giá và đánh giá các khoản vay: Những người quản lý ngân hàng phải xem xét một cách thận trọng đơn xin vay vốn của khách hàng để phân biệt rõ khach hàng nào đáp ứng được đầy đủ cả 5 yếu tố trên, sau đó sẽ chấp nhận và định giá khoản cho vay vốn nay. Khách hàng xin vay vốn sẽ phải gửi thông tin về tài chính, về tình hình hoạt đọng cũng như thông tin về tài sản liên quan đến việc vay vốn này. Trong vòng hai thập kĩ qua, khách hàng không chỉ thu thập thông tin trực tiếp từ khách hàng mà thường xuyên thu thập thông tin qua công ty thông tin. Các công ty này thu thập thông tin từ các doanh nghiệp và cá nhân và lập nên bảng báo cáo tóm tắt về nợ nần của khách hàng, lịch sử thanh toán và đưa ra một số nhận xét chung.

2. Thực hiện giám đầy đủ: Đây là bước thứ 2 để thực hiện quản lý rủi ro một cách hiệu quả sau khi ngân hàng cho vay vốn. Những hoạt động tài chính của doanh nghiệp sau khi vay vốn phải được giám sát liên lục để đảm bảo rằng doanh nghiệp vẫn tiếp tục đáp ứng đủ 5 yếu tố cơ bản trên. Một yêu cầu tối thiểu là ngân hàng phải theo dõi chặt chẽ việc thanh toán của khách hàng để có những quyết định cần thiết như tiếp tục cho vay hay tịch thu tài sản để thế nợ.

3. Xúc tiến mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng: Ngân hàng phải xúc tiến mối quan hệ với khách hàng, việc thiết lập mối quan hệ lâu dài với khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng và khách hàng hiểu biết về nhau tốt hơn, làm giảm bớt về cả mặt chi phí và thời gian khi xem xét giao dịch kinh doanh giữa hai bên. Việc có được mối quan hệ truyền thống với ngân hàng sẽ giúp cho khách hàng giải quyết được vấn đề thanh khoản những lúc cần thiết.

4. Quản lý tài sản có một cách chủ động: Việc quản lý các khoản vay phải được thực hiện thường xuyên và thận trọng. Ngân hàng cần phải biết thiết lập trạng thái cân bằng giữa tính chuyên môn hoá khi đầu tư va tính đa dạng hoá các khoản đầu tư. Một ví dụ điển hình là vào những năm 1980, các ngân hàng ở Oklahoma và Texas đã cho vay khách hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và khai thác dầu khí. Trong bản cân đối tài sản của các ngân hàng này, phần lớn các khoản đầu tư và cho vay tập trung vào lĩnh vực dầu khí, do vậy khi giá dầu giảm và các công ty này bị phá sản, các ngân hàng này đã gặp nhiều khó khăn và rất nhiều ngân hàng bị phá sản. Đây là một trong những ví dụ để phản ánh sự cần thiết phải đa dạng hoá danh mục đầu tư để đảm bảo trong trường hợp xảy ra khủng hoảng đối với một ngành nào đó thì ngân hàng vẫn duy trì hoạt động.

Một cách khách để phân tán rủi ro đối với một khoản cho vay lớn là cùng ngân hàng các cùng đầu tư vào các khoản vay đó thông qua bảng cam kết giữa các ngân hàng.

II. MỘT SỐ CÔNG CỤ QUẢN LÝ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG NH


Như đã nêu trên, mục tiêu hoạt động của ngân hàng là đảm bảo sự chênh lệch lãi suất thực dương giữa lãi suất từ việc cho vay vốn và chi phí phát sinh từ việc huy động vốn. Như vậy có nghĩa là việc quản lý rủi ro lãi suất phải được thực hiện thường xuyên liên tục tại các ngân hàng thương mại để đo lường mức đọ ảnh hưởng của lãi suất đến tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng thương mại.

1. Phương pháp phân tích ảnh hưởng chênh lệch tài sản nợ_có đến thu nhập của ngân hàng khi có sự biến động của lãi suất (Income Gap Analysis) Một cách thực hiện việc quản lý này đó là áp dụng phương pháp phân tích ảnh hưởng chênh lệch tài sản nợ có đến thu nhập của ngân hàng khi có sự biến động lãi suất (Income Gap Analysis). Dưới đây là chi tiết phương pháp tính ảnh hưởng do sự biến động của lãi suất đến thu nhập ngân hàng.

Bước đầu tiên cần làm khi thực hiện chiến lược quản lý rủi ro theo phương pháp này là xác định tài sản có và tài sản nợ nhạy cảm với sự biến động lãi suất. Về phía tài sản có, tài sản có nhạy cảm với lãi suất (interest rate-sensitive assets, viết tắt là ISAs) đó là tài sản mà có thời gian đáo hạn dưới một năm và những khoản cho vay với lãi suất phụ thuộc vào lãi suất trên thị trường. Về phái tài sản nợ, tài sản nợ nhạy cản với lãi suất( interest- rate-sensitive liabities, viết tắt là ISLs) đó là những khoản huy động vốn với thời gian đáo hạn dưới 1 năm và những khoản huy động vốn khác gắn liền với lãi suất biến động trên thị trường.

Bước tiếp theo là tính sự chênh lệch giữa hai tài sản này

Sự chênh lệch (GAP) = ISAs – ISLs

Trong đó ISAs tài sản có nhạy cảm với lãi suất
              ISLs tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất

Trường hợp tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản có nhạy cảm với lãi suất, sự chênh lệch mang dấu âm (GAP< 0), nếu lãi suất trên thị trường tăng, chi phí huy động vốn sẽ tăng hơn lãi suất thu được từ việc cho vay, do vậy thu nhập của ngân hàng giảm. Ngược lại, nếu lãi suất giảm, thu nhập của ngân hàng tăng lên.

Trường hợp tài sản có nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất (GAP > 0), nếu lãi suất trên thị trường tăng, lãi suất thu được từ việc đầu tư vào tài sản có sẽ tăng nhanh hơn chi phi bỏ ra huy động vốn, điều này có nghĩa là thu nhập của ngân hàng sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu lãi suất trên thị trường giảm, thu nhập ngân hàng giảm.

Trường hợp tài sản có nhạy cảm với lãi suất bằng tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất (GAP = 0), việc tăng giảm lãi suất trên thị trường sẽ có cùng mức độ tác động tài sản có nhạy cảm và tài sản nợ nhạy cảm, thu nhập của ngân hàng sẽ không thay đổi.

Dưới đây là bảng tóm tắt tác động của việc thay đổi lãi suất đến thu nhập của NH:

Qua việc phân tích ảnh hưởng của tác động lãi suất đến thu nhấp của ngân hàng, Ban quản lý tài sản nợ có không những biết được sự thay đổi của lãi suất có tác động tích cực hay tiêu cực đến thu nhập của ngân hàng mà còn tính được quy mô của sự tác động đó.

Quy mô của sự tác động đó được tính theo công thức sau:

BI = GAP.i

Trong đó Bi là mức độ thay đổi về thu nhập của ngân hàng,
              I là sự thay đổi về lãi suất
              GAP = ISAs – ISLs

Ví dụ như một ngân hàng có 150 triệu USD là tài sản có nhạy cảm với lãi suất, 250 triệu USD tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất. Với giả thiết là lãi suất tăng 3%. Ban quản lý tài sản nợ có sẽ tính được mức độ ảnh hưởng đến thu nhập như sau:

GAP = 150 – 250 = - 100
                   BI = GAP.i = -100. 0,03 = -3 triệu USD

Trong trường hợp này, ngân hàng dự tính thu nhập của ngân hàng giảm 3 triệu USD nếu lãi suất tăng 3%. Ngược lại, với lãi suất giảm 3% thì thu nhập của ngân hàng dự tinhd tăng thêm 3 triệu USD.

Như vậy, thông qua việc hiểu được bản chất của mối quan hệ giữa số tiền chênh lệch tài sản có và tài sản nợ và sự thay đổi về lãi suất, Ban quản lý tài sản nợ có đưa ra chính sách quản lý một cách hiệu quả rủi ro lãi suất.

DutruBatbuoc.jpgThông qua việc dự đoán lãi suất trong tương lai và mức độ rủi ro, Ban quản lý tài sản nợ có sẽ xác định lượng hoá được mức đọ rủi ro mad ngân hàng gặp phải. Nếu ngân hàng dự tính lãi suất sẽ tăng trong thời gian tới, Ban quản lý tài sảnnợ có sẽ ra các biện pháp định hướng để đảm bảo rằng tài sản có nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất (GAP > 0). Biện pháp thực hiện trong trường hợp này có thể hạn chế tài sản nợ ngắn hạn, tăng cường huy động nguồn vốn dài hạn. Hoặc Ban quản lý tài sản nợ có sẽ đưa ra chính sách tăng cường lượng tài sản có gắng liền với lãi suất có độ biến động lớn như cho vay ngắn hạn nhiều hơn hoặc đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn.

Nếu như Ban quản lý tài sản nợ có dự tính lãi suất sẽ giảm trong tương lai, họ sẽ đưa ra chính sách để có đựoc tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất lớn hơn tài sản có nhạy cảm với lãi suất (GAP > 0). Điếu đó có nghĩa là tăng cường huy động vốn ngắn hạn, tăng cường cho vay dài hạn, giảm cho vay ngắn hạn.

Từ công thức (1) cho thấy, độ lớn của GAP càng tăng, mức độ tác động của lãi suất đến thu nhập ngân hàng càng lớn. Độ lớn của GAP trong mọi trường hợp sẽ được phụ thuộc vào quan điểm chấp nhận rủi ro, ngân hàng đó sẽ duy trì sự chênh lệch giữa tài sản có nhạy cảm với lãi suất với tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất lớn, (duy trì GAP lớn). Trương hợp ngân hàng muốn hạn chế rủi ro đến mức độ tối thiểu, ngân hàng sẽ duy trì khoảng cách giữa hai loại tài sản này nhỏ.

Phương pháp trên là một công cụ hữu hiệu để đo lường ảnh hưởng do sự thay đổi lãi suất đến thu nhập của ngân hàng. Hiện nay các ngân hàng đã áp dụng một số phương pháp khác để đánh giá một cách cụ thể hơn tác động của sự thay đổi lãi suất đến giá trị của tài sản nợ, tài sản có và giá trị ròng của ngân hàng. Trên thực tế, có 2 loại rủi ro tác động đến việc đầu tư của ngân hàng khi lãi suất thay đổi đó là rủi ro về giá cả và rủi ro về việc tái đầu tư. Rủi ro về giá( price risk) là rủi ro khi lãi suất tăng làm cho giá cả thị trường của các khoản cho vay và các khoản đầu tư chứng khoán giảm. Rủi ro về tái đầu tư (reinvestment risk) là việc giảm lãi suất sẽ dẫn đến giá trị tương lai của các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán giảm. Hai loại rủi ro này vận động theo hai hướng khác nhau.

Chính vì vậy, các ngân hàng phải đưa ra một phương pháp đo giá trị tài sản của ngân hàng trong trường hợp có sự thay đổi về mặt lãi suất.

2. Phương pháp “phân tích thời gian đáo hạn trung bình gia quyền” (duration analvs)

Một phương pháp hữu hiệu mà các ngân hàng thương mại thế giới áp dụng thường xuyên đó là phương pháp “phân tích thời gian đáo hạn trung bình gia quyền”. Đây là phương pháp tính thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của giá trị hiện thời của dòng tiền mặt.

Dưới đây là công thức được áp dụng phổ biến khi tính thời gian đáo hạn trung bình gia quyền, được gọi là công thức Macaulay:

n CPt (t) , t=1 (1+i)

Trong đó: CPt là dòng tiền tương lai của các khoảng lãi định kỳ tại thời điểm t
          T là số thứ tự từng năm đầu tư
          i là lãi suất, n số năm đầu tư

Áp dụng công thức trên ta có thể tính được thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của một trái phiếu có trị giá là 10.000 đô la với tỉ lệ trả lãi hàng năm là 10%, trong vòng 5 năm thì thời gian đáo hạn trung bình gia quyền là 4.16997 năm. Giá trị náy có ý nghĩa là sau 4.16997 năm, người giữ trái phiếu sẽ thu được lãi suất là 10% từ khoản đầu tư này bất kể lãi suất trên thị trường thay đổi thê nào. Sau thời điểm này, việc lãi suất tăng làm giảm giá trị hiện thời của các khoản đầu tư sẽ được bù đắp bằng việc tăng giá trị dòng tiền tương lai của trái phiếu. Điều này có nghĩa là rủi ro về giá sẽ được bù đắp bằng việc tăng giá trị của việc tái đầu tu của trái phiếu này.

Từ công thức trên ta nhận thấy một điểm đáng lưu ý nữa là việc tính thời gian đáo hạn trung bình gia quyền cho thấy với trái phiếu đáo hạn càng dài rủi ro về lãi suất càng lớn.

Ban quản lý tài sản nợ có thường áp dụng công thức này trong việc quản lý các khoản đầu tư và quản lý vốn của ngân hàng bằng cách tính thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của số tiền chênh lệch giữa tài sản có nhạy cảm với lãi suất và tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất. Công thức áp dụng cho cách tính này này như sau: thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của số tiền chênh lệch bằng thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của tài sản có trừ đi thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của tài sản nợ:

Duration GAP = DURAs – DURLs

Trong đó DURAs là thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của tài sản có
              DURLs là thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của tài sản nợ

Trường hợp thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của số tiền chênh lệch mang dấu dương (Duration GAP >0) có thể hiểu rằng giá trị thị trường của tài sản có sẽ nhạy cảm với lãi suất hơn là giá trị thị trường của tài sản nợ. Cụ thể nếu lãi suất tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn giá trị của tà sản nợ, nếu lãi suất giảm, giá trị của tài sản có sẽ tăng nhanh hơn giá trị của tài sản nợ, làm vốn của ngân hàng tăng lên.

Trường hợp thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của số tiền chênh lệch mang dấu âm (Duration GAP <0) tăng lãi suất sẽ làm giảm vốn ngân hàng vì giá trị của tài sản có se giảm nhanh hơn giá trị của tài sản nợ. Tương tự, nếu lãi suất giảm thì vốn của ngân hàng sẽ tăng.

Phương pháp này không những giúp ban quản lý tài sản nợ có biết được sự thay đổi về vốn theo hướng nào khi lãi suất thay đổi mà còn tính được độ lớn của sự thay đổi, công thức tính như sau:

% thay đổi = -chênh lệch thời gian đáo hạn trung bình gia quyền * i/(1+i)

Hay                                    % NW = - Duration GAP * i/(1+i)

Như vậy nếu như ban quản lý tài sản nợ có dự tính rằng lãi suất thị trường sẽ tăng họ sẽ đưa ra chính sách để tăng thời gian đáo hạn trung bình của tài sản nợ và giảm thời gian đáo hạn trung bình gia quyền của tài sản có. Điều này có nghĩa tăng cường huy động vốn, tăng cho vay ngắn hạn.

Trên đây là một số phương pháp quản lý rủi ro trên được áp dụng trên các ngân hàng tiên tiến trên thế giới, nó là công cụ hữu hiệu để ngân hàng thực hiện tài sản và nguồn vốn. Hiện nay Việt Nam đang tiến hành hội nhập hệ thống tài chính quốc tế các ngân hàng cần pháp triển nghiệp vụ quản lý rủi ro, lượng hoá các rủ ro để tính toán được mức độ thiệt hại trong trương hợp cụ thể. Nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ chốt của các ngân hàng công cụ quản lý rủi ro của các nghiệp vụ này được ngân hàng trên thế giới nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn công việc hàng ngày. Thiết nghĩ các tổt chức tín dụng Việt Nam cần tham khảo phương pháp quản lý rủi ro của các ngân hàng tiên tiến trên thê giới để áp dụng vào công việc thực tiễn tại Việt Nam.

www.SAGA.vn - quinquin (st)

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 15/ 3 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 3)
  ibuild (15/07/2009 03:15 PM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Đừng đợi "nước đến chân mới nhảy" -  Định luật Murphy (Murphy’s Law) nói rằng: “Những gì có thể xảy ra được là sẽ xảy ra”. Theo TS. Hà Xuân Trừng, để phòng ngừa rủi ro, ngay từ khi bắt đầu triển khai dự án, các doanh nghiệp nên đưa ra nhiều kịch bản, từ tốt nhất đến xấu nhất. Nhờ vậy mà doanh nghiệp sẽ không bị động khi điều tồi tệ nhất xảy ra. Theo ông Trần Sĩ Chương, vấn đề mấu chốt để giảm thiểu rủi ro chính là vai trò ý thức rủi ro và quản lý nó của người chủ doanh nghiệp.

Lạm phát, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng, chính sách thắt chặt tiền tệ có thể còn kéo dài… đang khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn. Tỷ giá, lãi suất và thanh khoản được xem là ba rủi ro lớn nhất mà các doanh nghiệp phải đương đầu. TS. Hà Xuân Trừng khuyến nghị doanh nghiệp tìm cách chia sẻ bớt rủi ro với các tổ chức tài chính như ngân hàng, bảo hiểm... Trong ba loại rủi ro trên, duy trì thanh khoản - vốn lưu động là đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Các doanh nghiệp nên tính toán các phương án để đẩy nhanh tốc độ quay vòng của vốn lưu động. Ký các hợp đồng ngắn hạn, tích cực thu hồi nợ, hạn chế bán trả chậm, cắt giảm chi phí… là những phương án được nhiều doanh nghiệp đồng tình vào thời điểm này. Ông Trần Sĩ Chương nói: “Cân bằng giữa vốn và nợ, thu và chi là điều các doanh nghiệp phải quan tâm”.

Ông Lê Phước Vũ - Chủ tịch HĐQT Hoa Sen Group - cho rằng lạm phát là vấn đề toàn cầu, không phải là chuyện riêng của Việt Nam nhưng do nội lực chưa đủ mạnh nên có thể chúng ta phải chịu cú sốc này nặng hơn những nước khác. “Có thể cấu trúc tài chính hiện nay đang bị phá vỡ để thiết lập một mặt bằng giá mới. Tuy nhiên, qua cơn bĩ cực ắt sẽ đến đến hồi thái lai” - ông Vũ dự đoán.

Khoảng thời gian ba giờ đồng hồ là quá khiêm tốn để giải đáp những khúc mắc của tất cả các doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp đã ý thức được tầm quan trọng của quản lý rủi ro tài chính thì cũng là lúc họ khởi đầu quá trình củng cố “hệ miễn dịch” của mình, đồng thời hóa giải bớt những rủi ro không đáng có.

 
   
     
  Hook_TT (15/07/2009 12:01 AM) Có ích: 1/1    
 
© SAGA - Rủi ro tài chính -  Có thể lý giải thế nào về việc các ngân hàng Việt Nam vẫn công bố những khoản lợi nhuận khá cao, đối lập với sự khó khăn, thậm chí là sụp đổ của nhiều định chế tài chính lớn trên thế giới trong giai đoạn khủng hoảng là do lòng tin của dân chúng vào hệ thống ngân hàng Việt Nam hầu như không bị ảnh hưởng trong giai đoạn kinh tế khó khăn và không như các ngân hàng lớn của châu Âu hay Nhật Bản, các ngân hàng Việt Nam không có giao dịch nào đối với các tài sản độc hại liên quan đến hoạt động cho vay dưới chuẩn tại Mỹ.
 
   
     
  CHU_DU (13/07/2009 10:22 PM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Khấu hao tài sản -  Xin các anh chị saganor chỉ cho em biết loại tài sản nào thì được tính khấu hao đều, loại nào thì được tính khấu hao lũy kế?
 
   
     
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (13)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Rủi ro lãi suất
Ứng xử trước rủi ro
NASD: Những sai lầm trong đầu tư chứng khoán
Mối quan hệ bất động sản và kinh tế vĩ mô
Quản trị rủi ro tín dụng thể nhân: Thế nào và lúc nào?
Due Diligence - Đánh giá với trách nhiệm cao nhất
Rủi ro trong kinh doanh - Những sự vụ người trốn theo tàu
 
 
 
 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.