Tìm kiếm  
 
Thị trường Vốn Cơ hội đầu tư Đối tác Ý tưởng Công nghệ Dịch vụ
Bạn đang ở :  Trang chủ » Thế giới KD » Cơ hội giao thương » Công nghệ

KIẾN THỨC KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Cây cà phê ở Việt Nam
Internet – khi nào là từ khóa của kinh doanh
Alstom và Microsoft hợp tác phát triển các giải pháp IT cho ngành năng lượng
Home Automation System – Giải pháp tối ưu cho tòa nhà
Ứng dụng công nghệ Lidar: Đi tìm cốt nền cho TPHCM
Chế phẩm sinh học dùng trong bảo vệ thực vật
Tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng và khả năng thương mại hóa ở Việt Nam
Kiếm tiền trên mạng với Google
Biodiesel- Nguồn năng lượng mới
Tham vọng của những nền kinh tế ETHANOL
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng và khả năng thương mại hóa ở Việt Nam  
  Kiếm tiền trên mạng với Google  
  Tham vọng của những nền kinh tế ETHANOL  
  Cây cà phê ở Việt Nam  
  Triển lãm ảo, hội chợ ảo: Xu hướng mới để tiếp cận khách hàng  
  "Toàn cầu hóa" Facebook  
  Công nghệ LiDAR  
  Một số cây nguyên liệu diezel sinh học có triển vọng  
  Home Automation System – Giải pháp tối ưu cho tòa nhà  
  Ứng dụng công nghệ Lidar: Đi tìm cốt nền cho TPHCM  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: Dr.Phan  --   07/02/2007 01:33 PM    

Cây cà phê ở Việt Nam

( Bình chọn: 7   --  Thảo luận: 7 --  Số lần đọc: 31750)

Cây cà phê lần dầu tiên đưa vào Việt Nam từ năm 1897 và được trồng thử từ năm 1888. Giai đoạn đầu, cà phê chủ yếu trồng ở Ninh Bình, Quảng Bình… đến đầu thế kỷ 20 mới được trồng ở Nghệ An và một số nơi ở Tây Nguyên. Từ 1920 trở đi, cây cà phê mới có diện tích đáng kể đặc biệt ở Buôn Ma Thuật, Đăklăk. Khi mới bắt đầu, qui mô các đồn điền từ 200-300ha và năng suất chỉ đạt từ 400-600kg/ha. Cho đến nay, diện tích cà phê trên cả nước khoảng 500.000 ha và sản lượng có khi lên đến 900.000 tấn. Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới.

robusta.gifCà phê trồng ở nước ta có bao gồm cà phê vối (Robusta) chiếm 90% diện tích, cà phê chè (Arabica) 10% và cà phê mít (Excelsa) 1%. Do cà phê vối có hàm lượng caffeine cao (2-4%) nên hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè (caffein 1-2%) nên giá chỉ bằng một nửa. Cây cà phê chè ưa sống ở vùng núi cao và thưòng được trồng độ cao từ 1000-1500 m, nhiệt độ từ 16-25°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm. Cà phê vối ưa sống ở vùng nhiệt đới, độ cao thích hợp dưới 1000 m, nhiệt độ khoảng 24-29°C, lượng mưa khoảng trên 1000 mm và cần nhiều cần nhiều ánh sáng mặt trời hơn so với cây cà phê chè.

Một trong nhưng lý do diện tích cà phê vối cao hơn rất nhiều do chúng có sức sinh trưởng tốt và kháng được bệnh. Còn cà phê chè lại rất mẫn cảm với các bệnh như bệnh gỉ sắt (do nấm Hemileia vastatrix), bệnh khô cành, khô quả (do nấm arabica.gifColletotrichum coffeanum và vi khuẩn Pseudomonas syringea, P. garcae), bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)… 

Phương pháp cổ điển nhất để chọn giống cà phê bao gồm các bước tuyển chọn quần thể hoang dại tiếp theo lai, đánh giá sản lượng, lai ngược và lai giữa các loài. Nhược điểm của phương pháp này là thời gian lâu, thường khoảng 30 năm mới chọn ra được giống mới. Ngày nay, công nghệ sinh học đã được ứng dụng rộng rãi trong cải tạo và chọn giống cà phê như nuôi cấy mô, chuyển nạp gen và đánh giá chất lượng cây giống bằng một số phương pháp sinh học phân tử cho kết quả nhanh chóng như RFLP, RAPD, SSR, STS...

Theo chiến lược của ngành cà phê Việt Nam sẽ giảm diện tích cà phê vối và tăng diện tích cà phê chè tuy nhiên vấn đề giống là vấn đề quan trọng nhất. Trước đây giống cà phê chè ở Việt Nam là giống Typica, Bourbon, Caturra amarello hoặc một số giống được trồng mang tính thí nghiệm như Mundo Novo, Catuai. Hiện nay, các vùng mới trồng cà phê chè đều thuộc giống Catimor nhưng giống này có nhược điểm hương vị thiên về cà phê vối nên cần phải nghiên cứu thêm. Với nhu cầu cấp bách hiện nay là cần có giống cà phê chè mới có hương vị thơm ngon và kháng được bệnh thì cần phải ứng dụng các tiến bộ khoa học trong tuyển chọn và nhân giống cà phê từ các nguồn nhập ngoại và sẵn có ở Việt Nam.

TS. Phan Kế Long

saga.vn

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 28/ 7 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 7)
  cafe (08/08/2011 12:06 PM) Có ích: 0/0    
 
Dr. Long một số phần nói không chính xác cho lắm. Việc chọn tạo giống cà phê đã được làm rất lâu từ những năm 80s thế kỷ trước ở Việt Nam.
Cũng như đã trồng thử các giống cà phê chè chất cao nhập khẩu, nhưng các giống này không thích hợp tại Việt Nam, vì hầu như chúng bị bệnh gỉ sắt và sâu đục thân phá hoại nghiêm trọng. Hiện nay còn một số ít các giống nhập khẩu này từ thời Pháp để lại trồng trên Lâm Đồng (cụ thể vùng Cầu Đất), chất lượng rất cao, nhưng diện tích chỉ là vườn nhà. Giống cà phê Catimor trồng ở khu vực Cầu Đất này cũng cho chất lượng hương vị rất cao không thua kém các giống nổi tiếng. Catimor trồng trên Hướng Hóa cũng cho chất lượng cao và năng suất tuyệt vời.
Việc lai tạo các giống cà phê không hoàn toàn đơn giản, cần rất nhiều thời gian theo dõi như chất lượng, chống chịu sâu bệnh, địa lý.
Vấn đề cà phê Việt Nam muốn phát triển bền vững thì cần có quy hoạch rõ ràng: i) các vùng cao thuộc Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Kontum nên phát triển cà phê chè, không nên trồng cà phê vối. Tìm hiểu các cây chắn gió, nắng cho cây cà phê chè có giá trị kinh tế tạo thu nhập cho người nông dân. Vùng phía bắc không nên phát triển cà phê nữa, chất lượng kém cũng như năng suất không thể cao bằng vùng Tây Nguyên vì nhiều nguyên nhân; ii) cải tạo các vùng trồng cà phể vối, tập trung vào giống có năng suất cao, chất lương tốt như Viện cà phê đã tuyển chọn; iii) Tập trung nhân giống nhanh các giống có hiệu quả bằng phương pháp invitro sử dụng cho việc ghép chồi; iv) Tập trung nghiên cứu sâu bệnh, chọn tạo các gốc ghép có sức chống chịu cao đối với tuyến trùng, rệp sáp, hạn hán thích nghi cho từng khu vực.
Như vậy khối lượng để cho công nghiệp cà phê vẫn còn nhiều thách thức không chỉ một mình các nhà khoa học Tây Nguyên làm được mà cần kết hợp các chuyên gia ở các lĩnh vực khác nữa cũng làm để cho nền công nghiệp cà phê phát triển bền vững.
 
   
     
  Dr.Phan (01/06/2007 02:07 PM) Có ích: 2/2    
 

Dưới đây là trích đoạn trong cuốn “Lịch sử tự nhiên của Việt Nam” của các tác giả Eleanor Jane Sterling, Martha Maud Hurley và Lê Đức Minh:

“...Lúc đầu người Pháp trồng cà phê trên vùng cao nguyên nằm ở phía bắc TP. Hồ Chí Minh (lúc đó là Sài Gòn) vào đầu thế kỷ 20. Họ trồng giống Arabica, có chất lượng cao và được ưa thích hơn so với loại kém chất lượng hơn là Robusta nhưng lại khó trồng hơn bởi vì nó rất dễ bị bệnh và thích sống trên các sườn dốc trên 1000 m. Sau khi giành được độc lập từ người Pháp, những cộng đồng thiểu số sở hữu ít đất đã đầu tư trồng cà phê vào năm 1960. Giá cả thời chiến đã mang lại cho họ rất nhiều lợi nhuận cho những người sản xuất nhỏ này, tuy nhiên đất ở Việt Nam không thích hợp cho trồng cà phê Arabica...

Thị trường cà phê Robusta giá rẻ và chất lượng thấp lớn mạnh khiến vị thế của Việt Nam trên thị trường cà phê thế giới tăng nhanh, tuy nhiên, cái giá phải trả ở đây là mất đi rừng và những biến đổi khác về môi trường. Các tổ hợp chế biến cà phê đa quốc gia đã phát triển những công nghệ làm sạch bằng hơi mới để loại bỏ những hương vị thô của Robusta. Họ cũng bắt đầu bán cà phê có thêm hương vị, như hương của quả phỉ, vanilla và cà phê Ailen để giấu vị cà phê kém chất lượng của Robusta. Một số các quán ăn ở Việt Nam bán cà phê đặc biệt và hương vị Robusta được che giấu bằng cách ngâm các hạt cà phê vừa mới rang xong vào bơ và nước mắm hoặc cho các hạt cà phê đi qua hệ thống tiêu hóa của Chồn (họ Viverridae) hoặc culi (họ Lorisidae) và sau đó trộn cà phê với một lượng lớn đường và sữa đặc.”

Câu hỏi thảo luận:

-Trong trích đoạn trên, các tác giả đã cho rằng đất ở Việt Nam không thích hợp cho trồng cà phê Arabica vậy có nên phát triển loại cà phê này ở Việt Nam hay không? Nếu phát triển thì sẽ có lợi gì và sẽ mất gì?

Chúng ta nên phát triển các biện pháp nhằm tăng chất lượng cà phê Robusta như thế nào?

Chương trình phát triển cà phê Arabica ở các tỉnh phía bắc gặp nhiều khó khăn có thể là một minh chứng cho ý kiến trên là đúng. Cà phê Arabica rất mẫn cảm với các bệnh của cà phê đặc biệt là bệnh gỉ sắt nên chi phí sản xuất cao. Ngoài ra do cà phê Arabica thích hợp ở các vùng núi cao trên 1000m thì việc phá rừng trồng loại cà phê này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.

Vậy chỉ phát triển cà phê Arabica trên các diện tích cà phê sẵn có, muốn vậy phải nghiên cứu ra các giống mới có khả năng thích nghi cao, khả năng kháng bệnh tốt thì trồng cà phê Arabica  mới có lãi.

Hiện nay ở VN đang trồng cà phê Arabica Cartimor nhưng hương vị lại thiên về Robusta vậy việc ứng dụng các phương pháp chế biến nhằm giảm hương vị này cũng có khả năng tăng giá trị của loại cà phê này. Trong các phương pháp trên thì phương pháp cho hạt cà phê qua hệ tiêu hóa của Chồn (họ Viverridae) hoặc culi (họ Lorisidae) còn gọi là cà phê Chồn là khá thú vị. Các loài Cây giông sọc (Viverra megaspila), Cầy giông (Viverra zibetha), Cầy hương (Viverricula indica), Culi lớn (Nycticebus bengalensis) và Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus) đều là các loài động vật rừng nguy cấp, quí hiếm có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng được bảo vệ theo nghị định 32/2006/NĐ-CP vậy việc nuôi bảo tồn các loài này cùng với chế biến cà phê cũng có thể mang lại lợi ích cho cả hai mục tiêu.

 
   
     
  Dr.Phan (08/02/2007 03:54 PM) Có ích: 1/1    
 

Như đã nói ở trên, cà phê Arabica thích hợp ở vùng đất cao từ 900-1500m so với mực nước biển nên hiện đang được trồng ở 15 tỉnh miền núi phía Bắc tuy nhiên còn nhiều bất cập (Tham khảo: Giấc mơ cà phê arabica tan vỡ)

Vấn đề nổi cộm nhất trong ngành cà phê của Việt Nam hiện nay là khâu nghiên cứu tuyển chọn mới giống mới. Chúng ta có thể tham khảo bộ giống của các nước sản xuât cà phê lớn trên thế giới.

  • Ở Brasil: Hai giống cà phê Arabica chủ yếu là Mundo Novo và Cactuai, Địa bàn của mỗi giống tuỳ thuộc vào điều kiện địa phuơng chọn lựa, Cactuai chiếm 60% diện tích, Mudo Novo chiếm 35% còn lại là các giống khác như Icatu, Sarchomor, Caturra
  • Ở Columbia: Vào cuối năm 70, Colombia đưa giống cà phê Caturra vào sản xuất đã đưa sản lượng 8 triệu bao hàng năm lên đến 11 triệu bao. Năm 1982 Colombia bắt đầu trồng giống Colombia do trung tâm nghiên cứu cà phê quốc gia Colombia đưa vào sản xuất đặc biệt giống này có khả năng kháng bệnh gỉ sắt. Họ đã dùng giống Catimor lai hoa trở lại với giống Caturra do đó sản phẩm có hương vị của Arabica nhiều hơn. Hiện nay giống Colombia được trồng trên 40% diện tích.
  • Ở Mexico: Tổng diện tích trồng cà phê của Mexico khoảng 760.000 ha trong đó cà phê Arabica chiếm tới 97%. Các giống được trồng là Typica (27%), Mundo Novo (17%), Caturra (20%), Garnica (16%), Catuai (7%), Bourbon (4%), Maragogype (3%), Catimor (2%) và Tacamara (1%). 3% diện tích còn lại được trồng cà phê Robusta.

Nhìn chung các nước có ngành cà phê phát triển đều đầu tư nhiều vào khâu chọn và tạo giống. Còn ở Việt Nam công tác nghiên cứu về giống cà phê còn rất ít được chú ý. Các cơ quan khoa học cũng ít được đầu tư cho lĩnh vực này. Hiện nay giống Catimor đang được trồng rộng rãi do khả năng kháng bệnh gỉ sắt tuy nhiên chất lượng không cao.

Để sản xuất cà phê sạch, điều quan trọng nhất hiện nay là phải tao ra được giống cà phê Arabica có khả năng kháng bệnh, năng suất cao và hương vị thơm ngon. Ở Việt Nam, cà phê Arabica trồng ở các tỉnh như Sơn La, Lai Châu thuờng bị chết vào mùa đông do nhiệt độ xuống quá thấp nên đối với giống cà phê trồng ở đây còn đòi hỏi thêm khả năng chống chịu thời tiết.

Ngoài ra, để có sản phẩm cà phê sạch cũng rất cần sử dụng các biện pháp phòng trừ sinh học sâu bệnh hại để có thể quản lý lượng hoá chất tồn dư trong cà phê.

 
   
     
  egg (07/02/2007 06:33 PM) Có ích: 1/1    
 

Xin tiến sỹ Phan Kế Long vui lòng cho biết tại sao cây cà phê arabica lại chiếm tỷ trọng khá nhỏ ở nước ta. Brazil và Columbia thì họ trồng loại cà phê gì là chủ yếu? Hiện nay em thấy nhiều nước và nhiều hoạt động kinh doanh quảng cáo rất mạnh trên báo chí và các hệ thống truyền thông về sản xuất nông nghiệp sạch, trong ngành cà phê cái gì sẽ quyết định sản xuất là sạch, ở công đoạn nào?

Xin cảm ơn tiến sỹ và mong nhận được phản hồi.

 
   
     
  Dr.Phan (07/02/2007 04:46 PM) Có ích: 3/3    
 

Bệnh gỉ sắt
Đây là bệnh hại chủ yếu và nghiêm trong trên cà phê đặc biệt là cà phê chè (Arabica). Bệnh gây hại chủ yếu trên lá đôi khi ở than và quả. Cây nhiễm bệnh sẽ bị rụng lá, cây kiệt sức, sản lượng kém và nếu nặng có thể gây chết cây.

Bệnh xuất hiện đầu tiên vào năm 1868 ở Srilanca, tại đây bệnh đã làm giảm tới 75% sản lượng cà phê chỉ trong vòng 10 năm (1869-1878), đến năm 1890 hầu như phải huỷ bỏ toàn bộ diện tích cà phê để thay bằng cây cao su và cây chè. Sau đó bệnh lan dần sang Châu Phi và các nước khác thuộc Châu Á. Cho đến giữa thế kỷ 20 bệnh đã có mặt ở hầu hết các nước trồng cà phê tại hai châu này.

Năm 1970 bệnh xuất hiện ở Châu Mỹ tại bang São Paulo của Brasil và lan dần sang các bang khác của Brasil cũng như các nước khác như Paraguay (1972), Nicaragua (1976), Colombia (1983), Cuba (1985). Ở bang Parama của Brasil trong vụ 1973-1974 bệnh đã làm giảm 34% sản lượng cho dù 40% diện tích đã được phun thuốc hoá học. Vụ 1989-1990, Colombia đã chi 123 triệu USD để phun thuốc cho 250.000 ha cà phê.

Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện từ năm 1888 và đã gây nhiều thiệt hại. Ở miền Bắc, nhiều đồn điền của Pháp trước kia phải phá cà phê chè và thay bằng cà phê mít. Tại ĐắcLắc bệnh đã huỷ hàng nghìn ha cà phê chè trong những năm 1940-1945, chỉ còn khoảng 60 ha, vào năm 1957 toàn bộ diện tich đã phải thay bằng cà phê vối. Trong những năm gần đây, bệnh đã xuất hiện trên cà phê vối vốn được coi là có kháng bệnh gỉ sắt Tỷ lệ cây bệnh khoảng 50% cá biết có khi lên đến 70-85%.

Bệnh gỉ sắt do nấm Hemileia vastatrix chuyên ký sinh trên cà phê gây ra. Đầu tiên ở mặt dưới của lá xuất hiện những chấm nhỏ màu vàng nhạt như những giọt dầu. Sau đó các chấm này lớn dần và từ giữa xuất hiện bột màu vàng cam, đó là bào tử của nấm gỉ sắt. Bào tử chuyển dần sang màu trắng từ trung tâm ra ngoài và cuối cùng vết bệnh có màu nâu như vết cháy. Các vết cháy có thể liên kết với nhau thành vết cháy lớn, dẫn đến cháy toàn bộ lá và rụng. Khi bệnh nặng, cây rụng hết lá và chết.

Nhiệt độ và mưa là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của bệnh gỉ sắt. Tại Điện Biên, bệnh phát sinh quanh năm nhưng nặng nhất vào hai thời kỳ tháng 3 và 4; tháng 9, 10 và 11. Mùa thu bệnh phát triển và lây lan nặng hơn mùa xuân. Tại Sơn La, bệnh phát sinh vào tháng 9, 10, 11 một số ít vào tháng 7, 8. Tại Tây Nguyên, mưa là yếu tố quyết định sự phát sinh và phát triển của bệnh gỉ sắt. Trên cà phê chè, bệnh phát sinh từ đầu mùa mưa (tháng 4, 5) và phát triển trong suốt mùa mưa, phát triển mạnh từ tháng 7, 8 và đạt đỉnh cao vào tháng 9, 10. Trong mùa bệnh, tỷ lệ cây bệnh trên đồng ruộng là 100% và tỷ lệ lá bệnh trên 90%, chỉ số bệnh khoảng 25%. Trên cà phê vối, số cây nhiễm bệnh được chia làm 3 dạng diễn biến: dạng giống như cà phê chè chiếm 10%; dạng diễn biến rất nhẹ, phát sinh từ đầu mùa mưa, tháng 12 mới phát triển mạnh và đạt đỉnh vào tháng 1, tỷ lệ lá bệnh bình quân dưới 40%, chỉ số bệnh dưới 2%, dạng này chiếm khoảng 20% tổng số cây bệnh; dạng phổ biến phát sinh từ tháng 6 phát triển mạnh từ tháng 11, đạt đỉnh vào tháng 12, 1 với tỷ lệ lá bệnh bình quân 80%, chỉ số bệnh từ 2-15%, dạng này chiếm 70% tổng số cây bệnh.  

Để phòng trừ bệnh gỉ sắt, hiện đang sử dụng các biện pháp như chọn giống kháng bệnh, ghép chồi và dùng thuốc hoá học. Năm 1978, Viện nghiên cứu cà phê đã nghiên cứu chọn lọc được giống cà phê chè Catimor có khả năng kháng bệnh và hiện đang được trồng trên các diện tich cà phê chè ở Việt Nam. Biện pháp sử dụng chồi của các dòng cà phê vô tính có năng suất cao và khả năng kháng bệnh ghép lên các cây nhiễm bệnh hiện cũng đang được sử dụng rộng rãi trên đồng ruộng. Dùng các thuốc hoá học như Viben-C 50BTN, Tilt Super 300EC, Anvil 5SC, Dizeb-M45 80WP, Tilt 250EC … phun sớm khi phát sinh bệnh, tiếp theo 3-4 lần trong mùa bệnh, mỗi lần cách nhau 3-4 tuần lễ và phun vào mặt dưới của lá. Trong mùa mưa cần pha thêm chất dính để tăng độ bám của thuốc. 

Tài liệu tham khảo:

Trần Thị Kim Loan (1999) Sâu, bệnh hại cà phê và biện pháp phòng trừ. Trong Đoàn Triệu Nhận, Phan Quốc Sủng, Hoàng Thanh Tiệm  (eds), “Cây cà phê ở Việt Nam” . Nxb Nông Nghiêp, 402 trang.

TS. Phan Kế Long

 
   
     
  acer3610 (07/02/2007 10:20 AM) Có ích: 3/3    
 
Cà phê được Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) phân loại theo nguồn gồm:
  • Mild Arabica gồm có hai nhóm là “Colombian Mild” - Cà phê Arabica Colombia và “Other Mild” - các loại cà phê Arabica khác. Trong đó, “Colombia Mild” bao gồm cà phê sản xuất ở Colombia, Kenya, và Tanzania. Những nước có sản phẩm cà phê xếp trong nhóm “các loại Mild khác” bao gồm Guatemala, Mexico và Ấn Độ.
  • Cà phê “Brazilian Natural” là loại cà phê Arabica hàm lượng caffeine cao sản xuất ở Brazil và Ethiopia.
  • Nhóm cà phê “Robusta” từ tất cả các nguồn khác nhau. Trong nhóm này, Việt Nam hiện đang là nước sản xuất và xuất khẩu lớn nhất. Bên cạnh đó Bờ Biển Ngà, Indonesia và Uganda cũng là những nước có sản lượng cà phê Robusta xuất khẩu lớn.

Năm                                      

2003

2004

2005

Tổng sản lượng

85.905

90.702

86.708

Colombian Milds

11.767

11.392

12.006

Other Milds

21.108

21.500

19.462

Brazilian Naturals

23.754

26.511

25.557

Robustas

29.276

31.299

29.682


Trong điều kiện thông thường, cà phê nhóm “Colombian Mild” có giá thị trường cao nhất, trong nhóm này cà phê xuất khẩu từ Kenya có giá cao hơn cả. Nhóm “Other Milds” là nhóm có giá thị trường cao thứ hai, trong đó cà phê Costarica và cà phê Guatemala là hai loại có giá thị trường cao nhất. Nhóm “Brazilian Natural” xếp thứ 3 và nhóm “Robusta” có giá trị thị trường thấp nhất

Cây cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam từ những năm 1850. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất được thực hiện manh mún và thiếu tổ chức cho đến năm 1975 khi bắt đầu có những đợt di dân từ khu vực đồng bằng và duyên hải ven biển đến vùng cao nguyên, nơi có điều kiện thích hợp để trồng cà phê. Hoạt động sản xuất có được mở rộng tuy nhiên vẫn rất manh mún, nhỏ lẻ. Đến năm 1986, khi công cuộc đổi mới được tiến hành, cây cà phê mới được đưa vào quy hoạch và tổ chức sản xuất quy mô lớn, tập trung. Đến năm 1988, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ tư toàn thế giới (chiếm 6,5% sản lượng thế giới), đứng sau Brazil, Colombia  và ngang bằng với Indonesia. Tuy nhiên, cà phê do Việt Nam và Indonesia sản xuất chủ yếu là cà phê Robusta có giá trị thấp hơn cà phê Arabica của Brazil và Colombia. Vì vậy, Việt Nam và Indonesia chỉ chiếm 3,4-4% giá trị xuất khẩu toàn thế giới trong khi con số này với Brazil và Colombia là 21% và 17%.

Cho đến năm 1999, hoạt động xuất khẩu cà phê vẫn giới hạn cho doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, sau thời điểm này, các doanh nghiệp khối tư nhân đã được cho phép tham gia vào thị trường cà phê xuất khẩu. Gần 92% sản lượng cà phê của Việt Nam được xuất ra thị trường nước ngoài. Khoảng 85-90% diện tích cà phê hiện do các hộ nông dân nhỏ lẻ khai thác, khoảng 10-15% còn lại do các nông trường nhà nước khai thác.

Người nông dân thường thu hoạch đồng thời xử lý tách hạt cà phê tại chỗ. Sau công đoạn này, một phần nhỏ cà phê được bán để tiêu thụ trong nước, còn lại phần lớn được bán cho các lái buôn. Lái buôn mua hàng của nông dân và bán lại cho các đơn vị chế biến và xuất khẩu (chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước). Người nông dân bán cà phê cho lái buôn nhưng thường bị ép giá thấp và trực tiếp chịu tác động biến động giá xuất khẩu.

Năm 2006, theo dự báo, xuất khẩu cà phê của Việt nam sẽ đạt kim ngạch 950 triệu USD, tăng trên 5% so với năm 2005. Đây cũng là năm giá cà phê trở lại thời kỳ hoàng kim với mức tăng giá bình quân cao thứ hai sau cao su, tăng tới 46,8% (tương ứng tăng khoảng 370 USD/tấn ) so với cùng kỳ năm trước .

Việt Nam là thành viên mới nhất trong danh sách xếp hạng những quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Tham gia vào thị trường này từ những năm 1990, Việt Nam hiện xếp thứ hai toàn thế giới sau Brazil về tổng sản lượng cà phê và là quốc gia xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới. Trong giai đoạn từ 1995 đến 2001, Việt Nam đã tăng gấp ba diện tích trồng cà phê, cải tiến công nghệ và giống cây cà phê để cải thiện hiệu suất thu hoạch hạt cà phê trên mỗi hec-ta canh tác. Trong khi người nông dân Colombia cần một triệu hec-ta đất canh tác để tạo ra khoảng 1/3 tổng lượng cung cà phê, thì người nông dân Việt Nam chỉ cần 2/3 triệu hec-ta để sản xuất ra hơn mười triệu bao cà phê mỗi năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn 5 năm đó, do hệ thống tưới tiêu còn hạn chế không đáp ứng được thay đổi quy mô lớn và đột xuất, đa phần diện tích canh tác không có đủ lượng nước cần thiết.

Những khó khăn trong hoạt động canh tác và chăm sóc cây cà phê cùng với đợt khủng hoảng thừa cà phê (Việt Nam góp phần vào nguyên nhân chính) làm giá cà phê sụt mạnh đã làm người nông dân trồng cà phê thua lỗ trầm trọng. Nhiều diện tích trồng cà phê đã bị bỏ hoang hoặc phá đi trồng loại cây khác. Bảng 2.2-1 so sánh giá trị cà phê xuất khẩu của Việt Nam trước và trong khi có khủng hoảng:

Năm

Sản lượng (tấn)

Lượng xuất khẩu (tấn)

Giá trị xuất khẩu (USD)

Giá bình quân (USD/tấn)

15 năm 1990-2004

6,493,700

6,236,437

5,289,620,344

848.18

10 năm trước khủng hoảng

2,503,700

2,401,100

3,164,219,000

1317.8

(1990-1999)

 

 

 

 

5 năm khủng hoảng

3,990,000

3,835,337

2,125,401,344

554.16

(2000-2004)

 

 

 

 

Nguồn: Bài phát biểu của Chủ tịch Hội Cà phê Ca-cao Việt Nam,
tại Hội Nghị Cà phê Thế giới lần thứ 2, 21-22/09/2005, Salvador, Brazil

Sau năm 2004, Việt Nam đã cố gắng điều chỉnh tái quy hoạch phát triển ngành công nghiệp cà phê theo hướng phát triển bền vững, phát triển có tính toán để nhu cầu và chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, bên cạnh giống cà phê Robusta, Việt Nam đang hướng đến phát triển khu canh tác và sản xuất sản phẩm cà phê Arabica với chất lượng cao.
 
   
     
  zTranTriDung (07/02/2007 08:04 AM) Có ích: 2/2    
 

Mong Dr. Phan có thể nói rõ hơn về các bệnh với cà phê chè (arabica): gỉ sắt, khô cành, khô quả, và nấm hồng.

Nguồn gốc của các bệnh này, tác hại ra sao với cây cà phê và có các biện pháp phòng, chữa ra sao?

Xin cám ơn rất nhiều.

 
   
     
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (1)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Truyền hình Internet- xu thế mới và tất yếu?
Làm gì khi Yahoo tắc nghẽn
Tuyến trùng ký sinh gây bệnh côn trùng và khả năng thương mại hóa ở Việt Nam
Chế phẩm sinh học dùng trong bảo vệ thực vật
Khả năng thương mại của các ứng dụng công nghệ sinh học?
 
 
 
 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.