Tìm kiếm  
 
Chiến lược Quá trình Marketing Nghiên cứu Phân tích và dự báo Cạnh tranh Marketing sản phẩm Quan hệ khách hàng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Marketing - PR » Phân tích và dự báo

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Phân tích môi trường ngành với mô hình 5 áp lực
Phân tích SWOT
Lý thuyết về ma trận BCG
Mô hình PEST trong nghiên cứu môi trường vĩ mô
Khuynh hướng Marketing ở Việt Nam năm 2008
Mobile Marketing sẽ bùng nổ?
10 xu hướng thiết kế bao bì năm 2008
Rủi ro lạm phát và những kịch bản được dự báo?!
Chuyên gia nói gì về lạm phát?
Lạm phát và những câu hỏi
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Phân tích SWOT  
  Phân tích môi trường ngành với mô hình 5 áp lực  
  Mô hình PEST trong nghiên cứu môi trường vĩ mô  
  Lý thuyết về ma trận BCG  
  Khuynh hướng Marketing ở Việt Nam năm 2008  
  Ta biết ta chúa tể của muôn loài…  
  Việt Nam - câu chuyện "tiểu Mão" và "mãnh Hổ"  
  Kinh tế Mỹ: Hy vọng cuối cùng  
  Rủi ro lạm phát và những kịch bản được dự báo?!  
  Xu hướng marketing 2008: tiếp thị sáng tạo lên ngôi?  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: vikavp  --   29/03/2007 03:30 PM    

Lý thuyết về ma trận BCG

( Bình chọn: 12   --  Thảo luận: 10 --  Số lần đọc: 88875)

BCG là tên của một công ty tư vấn chiến lược (strategy consulting) của Mỹ, the Boston Consulting Group. Công ty này thành lập năm 1963 do Bruce Henderson sáng lập. Sau đó, nó nhanh chóng trở thành một trong ba công ty tư vấn chiến lược hàng đầu trên thế giới, bao gồm: McKinsey, Boston Consulting và Mercer. Lĩnh vực chủ yếu của tư vấn chiến lược là: lập kế hoạch kinh doanh chiến lược, hoạch định chiến lược của công ty, hoạch định chiến lược marketing (cấp công ty) v.v... chủ yếu ở tầm CEO - cấp độ cao nhất trong một công ty.

Ngoài ra, có rất nhiều các công ty tư vấn khác (trong đó nổi bật nhất là các công ty tư vấn của các đại gia kiểm toán trên thế giới) thì không thuộc lĩnh vực tư vấn chiến lược mà chỉ là tư vấn quản lý (management consulting). Tự bản thân cái tên của hai lĩnh vực tư vấn cũng nói lên sự khác nhau của chúng.

Sau khi được thành lập, ngay trong thập kỷ 60, BCG dựa vào kinh nghiệm của bản thân các nhân viên của mình và đã "sản xuất" ra hai mô hình quan trọng (một là về lý thuyết và cái còn lại có tính thực tiễn cao hơn):
  • Đường kinh nghiệm (Experience Curve)
  • Ma trận BCG
Trước hết, xin phép được giới thiệu qua về Experience Curve

Experience Curve

 mt01.jpg

Qua kinh nghiệm tư vấn cho các công ty đa quốc gia lớn, BCG nhận thấy một xu hướng là trong một ngành kinh doanh, chi phí sản xuất thường có xu hướng giảm dần theo thời gian. Do đó, họ đi đến một GIẢ THIẾT là: các công ty sẽ càng ngày hoạt động hiệu quả hơn nhờ kinh nghiệm họ tích lũy được trong việc sản xuất ra sản phẩm của họ. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và kinh nghiệm sản xuất tích lũy được thể hiện thông qua chính cái gọi là đường kinh nghiệm (experience curve).

Họ cũng đưa ra một khả năng để giải thích sự chênh lệch về chi phí sản xuất giữa các công ty cạnh tranh nhau (kiểu như giữa Romano của Unza và X-Men của ICP) là do một số công ty đã tích lũy kinh nghiệm sản xuất và phát triển được kiến thức của họ về sản xuất sản phẩm đó trong khi các công ty khác chưa thể làm được điều này

Lý thuyết này diễn giải khá dài, tóm lược lại thì nếu nhìn vào trong đồ thị ở trên, các bạn có thể hiểu được là, nếu một công ty có 20 kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất một sản phẩm thì từ năm thứ 10 trở đi đến năm thứ 20, chi phí sản xuất sẽ giảm được 20%. Và sẽ tiếp tục tiếp tục và tiếp tục... nhưng không bao giờ giảm về ZERO cả

Experience Curve có một ý nghĩa quan trọng là: Nếu một công ty có thể gia tăng kinh nghiệm sản xuất của mình thông qua việc tăng thị phần thì công ty đó có khả năng đạt được lợi thế về chi phí trong ngành kinh doanh đó mà các đối thủ khó có khả năng đạt được => nó khuyên các công ty tập trung đầu tư nhằm nhanh chóng tăng thị phần vì khoản đầu tư này sẽ được bù đắp trong tương lai

Xu hướng mới trong chiến lược của các đại gia đã được khẳng định từ đó => đánh mạnh vào thị trường nhằm giành càng nhiều thị phần càng tốt, thời gian đầu lỗ đến mức nào cũng được vì sau này sẽ được bù đắp

Lý thuyết này cũng được xây dựng dựa trên một nguyên lý của kinh tế học - Tính hiệu quả về quy mô (economies of scale)

Trên cơ sở Experience Curve và Product Life Cycle, BCG xây dựng lên mô hình ma trận BCG

Ma trận BCG hay còn gọi là ma trận quan hệ tăng trưởng và thị phần (growth/share matrix) được xây dựng vào cuối thập ky 60. Nguyên tắc cơ bản của ma trận này chính là đề cập đến khả năng tạo ra tiền thông qua việc phân tích danh mục sản phẩm của 1 công ty và đặt nó vào trong 1 ma trận như dưới đây.
mt02.jpg

và tên của bốn phần của ma trận lần lượt là: Ngôi sao, Dấu hỏi, Bò sữa và Chó.

 mt03.jpg
Các công ty sẽ phải xác định được tốc độ tăng trưởng của từng sản phẩm cũng như thị phần của từng sản phẩm này để đặt vào trong ma trận. Dựa trên ma trận này, BCG đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
  • Xây dựng (Build): Sản phẩm của công ty cần được đầu tư để củng cố để tiếp tục tăng trưởng thị phần. Trong chiến lược này, đôi khi phải hy sinh lợi nhuận trước mắt để nhắm đến mục tiêu dài hạn. Chiến lược này được áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Dấu hỏi (Question Mark)
  • Giữ (Hold): Chiến lược này áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Bò Sữa (Cash Cow) nhằm tối đa hoá khả năng sinh lợi và sản sinh tiền
  • Thu hoạch (Harvest): Chiến lược này tập trung vào mục tiêu đạt được lợi nhuận ngay trong ngắn hạn thông qua cắt giảm chi phí, tăng giá, cho dù nó có ảnh hưởng tới mục tiêu lâu dài của sản phẩm hay công ty. Chiến lược này phù hợp với sản phẩm trong phần Bò Sữa nhưng thị phần hoặc tăng trưởng thấp hơn bình thường hoặc Bò Sữa nhưng tương lai không chắc chắn. Ngoài ra, có thể sử dụng cho sản phẩm trong Dấu hỏi nhưng không thể chuyển sang Ngôi sao hay Chó
  • Từ bỏ (Divest): Mục tiêu là từ bỏ sản phẩm hoặc bộ phận kinh doanh nào không có khả năng sinh lời để tập trung nguồn lực vào những sản phẩm hay bộ phận có khả năng sinh lời lớn hơn. Chiến lược này áp dụng cho sản phẩm nằm trong phần Dấu hỏi và chắc chắn không thể trở thành Ngôi sao và cho sản phẩm nằm trong phần Chó
Ma trận BCG đơn giản hóa chiến lược thông qua hai yếu tố là tốc độ tăng trưởng sản phẩm và thị phần. Nó giả định rằng để có được tốc độ tăng trưởng cao thì phải sử dụng nhiều nguồn lực (và tiền) hơn. Nó không chỉ áp dụng cho sản phẩm mà có thể sử dụng để phân tích các bộ phận hay công ty con của một công ty => phân phối lại nguồn lực trong công ty

(TTVNOnline-Bigdaddy)

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 48/ 12 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 8)
  nguyentinh217 (20/05/2010 11:52 AM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Thảo luận -  Xin chào mọi người!

Đây là lần đầu tiên mình góp mặt trong cộng đồng, mình có một số thắc mắc mong mọi người giải đáp giúp mình:

Ma trận BCG và ma trận GE đều dùng để phân tích danh mục hoạt động của công ty. Mong mọi người nói rõ hơn về các trường hợp vận dụng ma trận này trong xây dựng chiến lược của doanh nghiệp.

1. Có phải ma trận BCG chỉ áp dụng với các chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp không? và nó phù hợp nhất với chiến lược chi phí thấp?

2. Ma trận GE là công cụ phân tích nhằm xác định chiến lược cạnh tranh cho các hoạt động của doanh nghiệp?

Theo mình nghĩ thì ma trận GE dùng để xác định tất cả các chiến lược phát triển hay tăng trưởng của doanh nghiệp.
 
   
     
  dangquangn (01/03/2009 09:19 PM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Harold S. Geneen – Người bác bỏ thuyết BCG -  Harold S. Gennen (1910 – 1997) được xem là một trong hai Giám đốc Điều hành giỏi nhất nước Mỹ. Năm 1959, Harold lãnh đạo ITT khi công ty này đang suy thoái. Doanh thu của ITT năm 1961 chỉ vào khoảng 700 triệu đô-la Mỹ và lợi nhuận thực chưa đến 20 triệu đô-la Mỹ.

Suốt 17 năm lãnh đạo, ông đã đưa doanh thu hàng năm của ITT lên 17 tỷ USD, lợi nhuận trên 500 triệu USD. Đáng nói, mức tăng trưởng của ITT vẫn đều đặn bất chấp các cuộc khủng hoảng trong suốt nhiều năm liền.

Từ một công ty chuyên về thiết bị viễn thông và quản lý điện thoại, Harnold đã đưa ITT trở thành tập đoàn đa ngành nhưng không phát triển theo dạng những công ty nhỏ hợp thành công ty lớn, mà mỗi công ty đều hùng mạnh trong lĩnh vực của mình.

Chẳng hạn, Continetal Baking nổi tiếng với chuỗi cửa hàng bánh mì. Sheraton đứng thứ hai thế giới về lĩnh vực khách sạn. Hartford là công ty bảo hiểm lớn thứ 4 thế giới…

ITT đã trở thành một tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới với nhiều công ty hoạt động độc lập dưới sự quản trị thống nhất, luôn được xếp trong 20 tập đoàn công nghiệp lớn nhất thế giới.

Quyển hồi ký của Harold nhanh chóng trở thành best seller về kinh doanh và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

 
   
     
  hacdieu (27/02/2009 02:51 PM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Giúp với -  Các bạn cho mình  biết về cách thức vẽ ma trận BCG thế nào vậy? Theo mình thấy nhiều tài liệu trục Market growth rate lúc thì vẽ bên phải lúc vẽ bên trái. Cái này có khác nhau không? Và khi vẽ ma trận này cần lưu ý gì không. Rất mong được các bạn giúp đỡ. Thân chào...
 
   
     
  violetrose0303 (26/02/2009 12:28 PM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Trả lời nguyentridat -  Mình cũng vừa mới được học và phân tích ma trận BCG nên có thể trả lời câu hỏi của bạn.

Ma trận này được sử dụng tương đối nhiều những năm trước đây nhưng do nó được hình thành trên cơ sở là dựa vào doanh số của doanh nghiệp để nói về khả năng cạnh tranh của công ty là không chính xác lắm.Vì thế hiện nay người ta đã dùng ma trận GE để dần thay thế cho ma trận BCG rồi nhưng nếu xét về một loại sản phẩm hay một loại hình kinh doanh nào cụ thể mà thị trường không phức tạp thì ta có thể dùng ma trận BCG để phân tích.

Mình có thể nói sơ về ma trận này cho các bạn hiểu rõ nhé! Ma trận này đượchình thành trên cơ sở doanh thu của doanh nghiệp dựa vào tốc độ phát triển {(DS(t)-DS(t-1))/DS(t-1)} và thị phần tương đối của doanh nghiệp (DS(dn)/DS(đối thủ)). Tính được xong ta sẽ xác định trên toạ độ và xem nó nằm ở ô nào trong 4 ô (dấu hỏi, ngôi sao, bò tiền và con chó).

Nếu mà nằm ở dấu hỏi và ngôi sao thì ta nên tiếp tục đầu tư, để tương lai sẽ về ô bò tiền để thu hoạch, còn nằm ở ô bò tiền thì tập trung thu lợi hạn chế đầu tư còn nếu nàm ở ô con chó thì tốt hơn nên loại bỏ nó.

Như có bạn nào đó hỏi là sao lại có hình tròn to nhỏ khác nhau thì như mình đã nói đây là chỉ dựa vào doanh số của doanh nghiệp để tính toán thì kích thước của các vòng tròn thể hiện tình hình doanh số của nó, nếu doanh số lớn thì vòng tròn lớn và ngược lại.

Đây mới chỉ là sơ sơ về ma trận BCG để cho các bạn hiểu thêm. Mình mong rằng sẽ được trao đổi nhiều hơn nữa về BCG cũng như nhiều loại hình phân tích chiến lược khác nữa.

Mình mong rằng sẽ được chia sẻ cùng các bạn ở địa chỉ mail: violetrose0303@yahoo.com

Thân ái chào các bạn!

 
   
     
  longplt (15/06/2007 06:43 AM) Có ích: 0/0    
 
Một bài viết hay. Tôi muốn bổ sung thêm một số ý:

- Experience curve: Tác giả quá tập trung vào việc giảm chi phí sản phẩm theo thời gian mà quên mất yếu tố kỹ thuật của sản phẩm. Theo thời gian kinh nghiệm sản xuất được tích luỹ, sản phẩm sẽ ngày càng hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật. Một ví dụ điển hình là Intel. Các bạn thấy đấy thế hệ chip ngày càng nhỏ hơn, tốc độ nhanh hơn

- BCG matrix: Người đọc dường như chưa hiểu tại sao các SBU (cái này tác giả cũng chưa đề cập, mà phải nhờ bạn Anh_yeu) lại có thể được phân loại vào các ô trên, mà chỉ giải thích các ô này có ý nghĩa gì.

Muốn giải thích nguyên nhân tại sao lại phân loại ra làm 4 ô: cash cow, question mark, dog, star phải hiểu được 2 axes của matrix.

Horizontal axis - Relative market share: cho ta thấy thị phần của SBU so sánh tương đối với thị phần của đối thủ cạnh tranh gần nhất. Ví dụ: SBU chiếm 60% thị phần, đối thủ gần nhất chiếm 20% => relative market share = 60/20 = 3.

Vertical axis - Market growth rate: cho ta thấy mức độ phát triển của thị trường. Thị trường càng phát triển nhanh càng tạo ra room cho các doanh nghiệp hoạt động và ngược lại, các đối thủ cạnh tranh muốn phát triển trong thị trường không phát triển thì chỉ có cách chiếm lĩnh thị phần của nhau.

Theo đó với relative market share = 3, SBU hoạt động trong thị trường không phát triển thì được phân loại vào ô Cash Cow (doanh nghiệp chiếm phần lớn thị phần không cần đầu tư giữ thị phần mà chỉ cần ngồi hưởng lợi), hoạt động trong thị trường phát triển thì được phân vào ô Star (do doanh nghiệp phải liên tục đầu tư để giữ thị phần).
 
   
     
  anh_yeu (31/03/2007 11:18 AM) Có ích: 2/2    
 

Xin bổ sung bài viết của bạn. Những hình tròn là một SBU (Strategy Business Unit - Đơn vị kinh doanh chiến lược), mỗi SBU này là một lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp. Kích thước các hình tròn phản ánh doanh thu tương đối từ lĩnh vực đó. Thân mến!

 
   
     
  lethanhdung (30/03/2007 08:28 PM) Có ích: 5/5    
 

Một vài trao đổi giúp chị Kanguru:
1. Experience Curve là một mô hình có thể xem xét ở chỉ một vài góc độ (giống như các mô hình lý thuyết, người ta chỉ xem một biến còn cố định các biến khác hoặc người ta xem xét trong một bối cảnh ổn định để đơn giản mô hình). Ở lý thuyết này đúng như bạn kingeric nói trên, nó chính là tính kinh tế vì quy mô. Tuy nhiên từ những năm 1960 người ta đã thấy:

- Không phải càng tăng quy mô thì càng giảm chi phí khi nhiều đối thủ cùng lao vào mà thị trường không thay đổi thì doanh nghiệp phải tốn chi phí đầu tư để tiêu thụ!

- Cũng có nhiều cách khác giảm chi phí mà không cần phải tăng quy mô.

- Công nghệ mới có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí (có đường experience curve mới)!

2. Đương nhiên không phải cứ nằm ở ô nào thì doanh nghiệp sẽ theo chiến lược đó vì còn phải tính đến nguồn lực của doanh nghiệp nữa chứ!

 
   
     
  NguyenTriDat (29/03/2007 10:04 PM) Có ích: 1/1    
 

Sau khi đọc bài viết của bạn mình có vài thắc mắc sau

1. Đường kinh nghiệm: Theo mình được hiểu thì đường kinh nghiệm này là "hiệu ứng kinh nghiệm". Mình đã tra thử tài liệu nhưng không thấy tài liệu nào nói là thời gian tham gia ngành càng dài thì chi phí sẽ càng giảm. Trục tọa độ mà bài viết đưa ra là "Cumulated Units of Production" tạm hiểu theo đồ thị của bạn là khi bạn sản xuất càng nhiều sản phẩm thì chi phí sẽ giảm đi theo một tỷ lệ nhất định. Hiệu ứng này càng mạnh nếu quy mô của bạn càng lớn.Có nhiều yếu tố tác động đến điều này như kỹ năng của công nhân ,cải tiến công nghệ...

Nhưng xin lưu ý là mô hình này được đưa ra vào những năm 60 của thế kỷ trước và nó có thể "chỉ có tác dụng" với các ngành sản xuất và trong điều kiện hiện nay, khi khoa học công nghệ phát triển rất mạnh mẽ, hiệu ứng kinh nghiệm có thể diễn ra ngay cả trước khi sản phẩm được ra đời.

2.Ma trận BCG: Mình chỉ thấy thắc mắc các ô tròn của bạn, bạn có thể giải thích cho mọi người hiểu rõ về các ô tròn đấy không? Nó là cái gì? Tại sao lại có cái to cái bé, những chấm đó biểu hiện điều gì với doanh nghiệp?

Bạn có chắc rằng cứ ở các ô đấy doanh nghiệp phải thực hiện đúng các chiến lược do bạn đưa ra?

Mong câu trả lời

 
   
     
 
Thảo luận (2) Thành viên ưa thích (26)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  ly07 (28/11/2008 11:25 PM)  
 
Tuyệt quá, rất hữu ích với tôi.
 
   
     
  vikavp (31/03/2007 04:05 PM)  
 
Cảm ơn mọi người rất nhiều. Thật ra khi tôi tìm được tài liệu viết về BCG mà chưa hiểu rõ nên mới nêu ra để xin ý kiến của cộng đồng Saga (tiếc rằng admin đã "quên" lời thỉnh cầu của tôi). Rất trân trọng ý kiến đóng góp của các bạn và hy vọng sẽ được tiếp tục nhận được những thông tin giải thích thêm về BCG để tôi có thể hiểu cặn kẽ hơn
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Phân tích SWOT
Đánh giá hiệu quả của chiến dịch tiếp thị bằng thư điện tử
 
 
 
 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.