Tìm kiếm  
 
Kinh tế học Mô hình toán Thương mại Kinh tế lượng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Kinh tế học kinh doanh

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Tìm hiểu về hối phiếu
Lạm phát !!!
Rủi ro và bất định
Sổ tay kinh tế lượng
Hiểu đúng vai trò của Kinh tế lượng: Điều đáng làm
Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Kinh tế Việt Nam trong thế trận cạnh tranh toàn cầu hóa
Công thức bán hàng thành công
Chi phí cơ hội và chênh lệch cơ hội
Các xu thể phát triển kinh tế thế giới ngày nay
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Lạm phát !!!  
  Tranh luận qua các báo về Thế Giới Phẳng của Thomas L. Friedman  
  Lợi thế so sánh và các lý thuyết về thương mại quốc tế  
  DNSGCT- Thương mại là khởi nguồn văn minh  
  Chính phủ trong nền kinh tế thị trường  
  Nghệ thuật kinh doanh  
  Rủi ro và bất định  
  Ôi, kinh tế học  
  Lỗ hổng của bàn tay vô hình  
  Luật hợp thành trong (cấu trúc đại số)  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: HuynhThanhDien  --   04/11/2007 12:06 PM    

Văn hóa doanh nghiệp và vốn xã hội trong doanh nghiệp

( Bình chọn: 5   --  Thảo luận: 1 --  Số lần đọc: 8794)

Văn hóa doanh nghiệp và vốn xã hội trong doanh nghiệp

Rất dễ nhằm lẫn hai khái niệm vốn xã hội trong doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp. Bài viết này nhằm trình bày lại hai khái niệm này và phân biệt chúng.

Văn hóa doanh nghiệp:

cultural.jpgĐể hiểu rõ khái niệm văn hóa doanh nghiệp, trước hết cần hiểu rõ về khái niệm văn hóa. Theo UNESCO “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như hiện tại, qua hàng nhiều thế kỷ nó cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”. Dựa trên khái niệm này, ta có thể hiểu khái niệm văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích. Văn hóa doanh nghiệp là cái còn lại khi tất cả những cái khác bị quên đi (E.Heriot, 2000).

Biểu hiệu văn hoá doanh nghiệp dưới các cấp độ sau:

- Cấp độ thực thể hữu hình: là cấp độ dễ thấy nhất, đó chẳng hạn như những đồ vật: báo cáo, sản phẩm, bàn ghế, phim... hoặc công nghệ: máy móc, thiết bị, nhà xưởng... hoặc ngôn ngữ: chuyện cười, truyền thuyết, khẩu hiệu... hoặc các chuẩn mực hành vi: nghi thức, lễ nghi, liên hoan... hoặc các nguyên tắc, hệ thống, thủ tục, chương trình...

- Cấp độ giá trị được thể hiện: là những giá trị xác định những gì cá nhân trong doanh nghiệp ghĩ là phải làm, xác định những gì họ cho là đúng hay sai. Giá trị này gồm hai loại. Loại thứ nhất là các giá trị tồn tại khách quan và hình thành tự phát. Loại thứ hai là các giá trị mà lãnh đạo mong muốn và phải xây dựng từng bước.

- Cấp độ giá trị ngầm định: Ðó là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và xúc cảm được coi là đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân trong doanh nghiệp. Các ngầm định này là nền tảng cho các giá trị và hành động của mỗi thành viên.

Vốn xã hội trong doanh nghiệp:

Vốn xã hội trong doanh nghiệp tồn tại với những hình thức khác như sự tín cẩn (trust), sự có đi có lại hay sự hỗ tương (reciprocity), quy tắc (norms) và mạng lưới xã hội (networks) (Dasgupta và Serageldin, 2000; Fountain, 1998; Lesser, 2000; Putnam, 1995).

Sự tín cẩn (trust) được phát triển qua thời gian trên cở sở nhiều lần làm ăn với nhau. Khi doanh nghiệp được sự tín cẩn cao từ các đối tác kinh doanh, khi làm ăn với nhau họ sẽ không mất công sức, thời giờ (vốn là tài nguyên không nên phí phạm) để theo dõi và kiểm tra nhau, thay vào đó họ dành nhiều thời gian, công sức để tập trung nghiên cứu các giải pháp cải tiến doanh nghiệp. Nhờ vào sự tín cẩn lẫn nhau nên doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ (reciprocity) và hành xử (norms) theo chuẩn mực từ các chủ thể khác, tạo nên nghĩa vụ lâu dài giữa đối tác, giúp doanh nghiệp. Vốn xã hội còn biểu hiện dưới dạng mạng lưới (networks) liên kết cảu doanh nghiệp với các chủ thể khác trong môi trường kinh doanh, nhờ mạng lưới này giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các thông tin để thực hiện cải tiến doanh nghiệp.

Phân biệt vốn xã hội trong doanh nghiệp và văn hóa doanh nghiệp.

Dựa vào hai khái niệm vốn xã hội và văn hóa doanh nghiệp, ta thấy hai khái niệm này có nhiều đặc điểm khá giống nhau là chúng đều hàm chứa mối quan hệ và bản chất mối quan hệ đó (tín cẩn, hỗ trợ, hành xử lẫn nhau) giữa các cá nhân. Tuy nhiên, khi nhìn sâu vào bản chất khái niệm thì ta thấy có nhiều điểm khác biệt sự khác nhau giữa chúng như sau:

Thứ nhất: Vốn xã hội có thể được xem là nguồn vốn đầu tư ban đầu cho một dự án khởi nghiệp kinh doanh, còn văn hóa doanh nghiệp thì phát sinh sau khi dự án kinh doanh đó đi vào hoạt động.

Tên gọi vốn xã hội đã hàm chứa bản chất của chúng, nó là “vốn”. Vốn để khởi nghiệp hoạt động kinh doanh có từ nguồn các chủ sở hữu hoặc vay từ các tổ chức tài chính. Vốn xã hội chất chứa trong mỗi cá nhân là chủ sở hữu đầu tư vào dự án khởi nghiệp. Thực tế ta dễ dàng nhận thấy sự thành của những dự án khởi nghiệp có đặc điểm chung là nhờ vào mối quan hệ xã hội của cá nhân những cá nhân tạo dựng nên. Khi cá nhân có được mạng lưới xã hội rộng và có chất lượng (nghĩa là có sự tín cẩn, hỗ trợ và hành xử tốt lẫn nhau) thì họ sẽ giải quyết được nhiều vấn đề như thủ tục khởi nghiệp, huy động vốn vật chất (vốn tài chính, vốn vật thể, con người), khắc phục những bị động về đầu vào và giải quyết được thị trường cho sản phẩm của dự án khởi nghiệp. Trái lại nếu cá nhân có vốn xã hội thấp sẽ gặp khó khăn trong các khâu giải quyết đó. Vì thế, vốn xã hội chính là yếu tố đầu vào, là vốn đầu tư ban đầu giúp cá nhân ra quyết định có nên nghiệp dự án kinh doanh hay không?

Khi các nguồn lực được đưa vào hoạt động kinh doanh theo thiết kế của dự án khởi nghiệp thì các nhà quản trị bắt đầu thiết lập tổ chức sao cho sử dụng hiệu quả các nguồn lực đó. Tổ chức sẽ được thiết kế (tạo giá trị hữu hình, ngầm định và thể hiện) sao cho những cá nhân trong doanh nghiệp có môi trường làm việc phát huy tối đa năng suất, cắt giảm tối đa chi phí và khuyến khích đổi mới. Những việc làm đó sẽ hình thành nên một văn hóa doanh nghiệp bao gồm các tạo lập các giá trị hữu hình, giá trị thể hiện và giá trị ngầm định theo thời gian nhằm mục đích là tăng vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp thông qua tái đầu tư lợi nhuận, trong đó có sự tăng của vốn xã hội.

Thứ hai: Vốn xã hội có thể đo lường nhiều hay ít nhưng văn hóa thì không thể mà chỉ có văn hóa doanh nghiệp mạnh hay yếu.

Vốn xã hội được tồn tại dưới các tài sản mạng lưới, tài sản tham gia, tài sản tín cẩn, tài sản thị trường...(Réjean. L, Nabil. A và Moketar, 2000). Các tài sản này hoàn có thể đo lường được, chẳng hạn tài sản mạng lưới được đo lường các mối nối của doanh nghiệp với các chủ thể khác như nhà cung cấp, khách hàng, nhà quản lý, nhà khoa học, các cơ quan quản lý ngành, viện nghiên cứu, trường đại học...; tài sản tham gia được đo lường đước số hiệp hội doanh nghiệp tham gia, số lần tham hội nghị, triển lãm, tham gia nghiên cứu khoa học...; tài sản tín cẩn cũng đo lường được (nghiên cứu của Réjean. L, Nabil. A và Moketar, 2000). Sự đo lường này có thể cho ta kết luận vốn xã hội nhiều hay ít cũng giống như vốn vật thể, vốn tài chính.

Trái lại, vốn văn hóa theo định nghĩa của chúng (như trình bày ở phần trên) thì không thể đo lường được nhiều hay ít mà chỉ có thể nói mạnh hay yếu. Văn hóa doanh nghiệp được xem là mạnh nếu chúng mang đến nhiều giá trị giúp tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngược là văn hóa doanh nghiệp yếu sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh. Có nhiều trường hợp vốn văn hóa nhiều nhưng lại yếu. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam được thành lập vào những năm 1975 đến nay hơn 30 năm hoạt động có nhiều giá trị văn hóa truyền thống chẳng như văn hóa “cúng kiến” ở doanh nghiệp, văn hóa ghi nhận công lao (cho một số cá nhân làm việc lâu năm giữ những trọng trách quan trọng trong doanh nghiệp), văn hóa im lặng (Nguyễn Hoàng Bảo, 2007), văn hóa tuyển dụng theo tiêu chuẩn quen biết ... rất nhiều, nhưng đó là văn hóa yếu, đã dẫn đến nhiều doanh nghiệp nhà nước phá sản trong thời gian qua. Ngược lại, có nhiều doanh nghiệp mới được thành lập trong hơn 5 năm qua, quá trình tích lũy văn hoá ít nhưng đó là văn hóa mạnh chẳng hạn như Trung Nguyên, Đồng Tâm, Hà Việt, FPT, Kinh Đô ... đã thành công nhờ vào văn hóa mạnh (mặc dù ít).

Thứ ba: Văn hóa và vốn xã hội trong doanh nghiệp đều phản ánh mối quan hệ. Nhưng văn hóa doanh nghiệp là quan hệ bên trong, trong khi vốn xã hội đề cập kể cả bên trong và bên ngoài.
Văn hóa doanh nghiệp chủ yếu thể hiện các giá trị hữu hình, thể hiện và ngầm định bên trong bên trong của doanh nghiệp. Vốn xã hội thể hiện quan hệ bên ngoài, đó là mạng lưới kinh doanh, mạng lưới công nghệ, mạng lưới thông tin... với các chủ thể khác. Kể cả khi đề cập đến chất lượng của mối quan hệ là sự tín cẩn, hỗ trợ và hành xử cũng là sự tín cẩn, hỗ trợ và hành xử giữa các tổ chức cá nhân khác đến toàn bộ hệ thông doanh nghiệp. Đây là mẫu chốt quan trọng để phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm này. Có thể ví như loài khỉ và loài người đều có tay, có chân, có mắt có mũi... những là hai loài vật hoàn toàn khác nhau.

Thứ tư:
Vốn xã hội là nguồn lực kinh doanh trong khi văn hóa doanh nghiệp là doanh nghiệp là nghệ thuật sử dụng nguồn lực đó.
Có thể có nhiều học giả so sánh ý niệm “vốn” trong vốn xã hội với “vốn” trong vốn vật thể rồi kết luận ý niệm này là không ổn. Theo Arrow (xem Dasgupta và Serageldin, 1999) cho rằng vốn vật thể có ba đặc tính là có thể dãi đều qua thời gian, hàm chứa sự hy sinh cho lợi ích mai sau, có thể được chủ thể này chuyển cho thủ thể khác. Arrow cho rằng vốn xã hội có đặc tính thứ nhất mà không có đặt tính thừ hai và Thứ ba. So sánh của Arrow giống như so sánh “con chó” với “con mèo”, dựa vào đặc tính của con chó rồi nói con mèo thiếu một số đặc tính của con chó để kết luận con mèo không phải là “con”. So sánh này của Arrow là khập khiển bởi lẽ vốn xã hội là vốn xã hội, vốn vật thể là vốn vật thể, hai khái niệm vật thể và xã hội khác nhau. Miễn là cả hai đều có thể dùng để thực hiện đầu tư và hoạt động kinh doanh đều được xem là “vốn” (suy luận từ khái niệm về vốn).

Mặt khác văn hóa doanh nghiệp biểu hiện việc thiết kế tổ chức để sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẳn có của doanh nghiệp, qua thời gian làm vốn xã hội tăng lên. Không chỉ có vốn xã hội mới tăng theo gian mà vốn tài chính và vốn vật thể cũng tăng nhờ vào nguyên lý tái đầu tư. Có không ít công ty đầu chỉ có 100.000 đôla vốn chủ sở hữu, sau một thời gian ngắn hoạt động vốn chủ sở leadership1.jpg hữu lên rất nhiều. Một sự gia tăng nhờ vào một yếu tố ngoài vốn đó là văn hóa doanh nghiệp, là nghệ thuật sử dụng nguồn lực “vốn”.

Thứ năm: Văn hóa doanh nghiệp và vốn xã hội sẽ tăng trưởng và phát triển theo thời gian tùy thuộc vào tư duy của người lãnh đạo.  Nhiều người đồng nhất văn hóa doanh nghiệp với văn hóa lãnh đạo. Câu nói này đúng trên một vài khía cạnh thực tiển. Có nhiều doanh nghiệp đang trên bờ vực phá sản, thì xuất hiện một lãnh đạo tài ba đưa đưa doanh thoát khỏi khủng hoảng và đi đến thời kỳ hoàn kim. Hiện tượng này trong giới quản trị gọi là vai trò của cá nhân trong tổ chức, người lãnh đạo này không mang vốn về doanh nghiệp mà cái anh ta mang đến là văn hóa. Chính văn hóa và quyền lực ở doanh nghiệp, anh ta đã hình thành nên văn hóa tại doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiến theo thời gian. Vốn xã hội cũng tăng trưởng theo thời gian khi văn hóa doanh nghiệp phát triển. Một doanh nghiệp có bề dày tồn tại sẽ có mạng lưới xã hội rộng nó sẽ góp phần hình thành nên giá trị doanh nghiệp. Nên chăng đưa vốn xã hội vào như một thành tố để xem xét đến giá trị doanh nghiệp. Như vậy, phương pháp tính phải như thế nào?

Thay lời kết

Trên phương diện nào đó, nào ta cho rằng văn hóa doanh nghiệp và vốn xã hội là một, hay văn hóa doanh nghiệp là một tập hợp con của vốn xã hội. Phân tích trên cho thấy đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, doanh nghiệp cần phải lựa chọn những phương pháp đầu tư chúng khác nhau. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang đối mặt với những vấn đề về vốn vật thể và trình độ công nghệ, việc đề xuất nên xem xét đến vốn xã hội trong doanh nghiệp là một hướng tư duy mới, phương pháp mới để giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán về vốn. Rất mong sớm nhận được các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam kết luận về vấn đề này.
_________________
Huỳnh Thanh Điền

Bài cùng chủ đề
Trôi nổi "Văn hóa doanh nhân"
Quan điểm của Herb Kelleher về văn hóa doanh nghiệp
ĐCSVN- "Văn Minh Làm Giàu & Nguồn Gốc Của Cải” - Cuốn sách bổ ích cho doanh nhân
Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trước những đòi hỏi của thực tiễn


Bản quyền © Huỳnh Thanh Điền - SAGA (11/2007) www.saga.vn

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 25/ 5 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 1)
  zTranTriDung (25/08/2007 08:16 AM) Có ích: 3/3    
 

Cám ơn bạn Huỳnh Thanh Điền đã chia sẻ một bài viết công phu, với vấn đề ngày càng nhận được nhiều hơn quan tâm của cộng đồng kinh doanh và giới nghiên cứu học thuật.

Qua bài viết, mình hiểu rằng vốn xã hội là nguồn lực có trước, cũng như tiền, đất đai, hay lao động..., góp phần hình thành nên doanh nghiệp. Các nguồn lực này được sử dụng, phát triển ra sao, sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố (cả bên trong và bên ngoài) của doanh nghiệp. Trong đó, văn hóa doanh nghiệp là yếu tố nổi bật và ngày càng được coi là quan trọng (chưa có bằng chứng thực nghiệm?).

Sự thịnh vượng hiện tại của các doanh nghiệp có thể đo lường qua các chỉ tiêu kinh doanh, tài chính như mức lợi nhuận, thị phần, các chỉ số tăng trưởng. Còn điều gì thể hiện năng lực tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp? Liệu có phải là yếu tố văn hóa?

Mời các bạn cùng tham gia trao đổi.

 
   
     
 
Thảo luận (0) Thành viên ưa thích (2)
Trang trước   -  1/0  -   Trang sau
 
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Tại sao có sự thăng trầm kinh tế?
Giá nhân công giảm - toàn cầu hóa không phải là thủ phạm
Mối quan hệ giữa giá Vàng và Chứng khoán
Sử dụng các biện pháp trợ cấp của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Định nghĩa Kinh tế học
 
 
 
 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.