Tìm kiếm  
 
Thị trường Tài chính quốc tế Công cụ Kĩ thuật tài chính Qui hoạch Cấu trúc vốn Kế toán-Kiểm toán Tổ chức tài chính
Tổng quan thị trường tài chính | Thị trường sơ cấp | Thị trường thứ cấp | Ngân hàng | Tổ chức tài chính phi ngân hàng
Bạn đang ở :  Trang chủ » Kiến thức KD » Tài chính » Thị trường » Ngân hàng

Tin Tức Kinh Tế - Tài Chính

Saga-Việc Làm

THẾ GIỚI KINH DOANH

CUỘC SỐNG

THUẬT NGỮ

 

SỰ KIỆN - CHUYÊN ĐỀ

BÀI HAY

Quy trình tín dụng của ngân hàng
Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2)
Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại (Bài 3)
Ngân hàng là gì?
Hoạt động Marketing của các Ngân hàng thương mại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng (Phần 1)
Thuê tài chính và những điều doanh nghiệp cần biết
Cách xác định hạn mức tín dụng (phần 2)
Cho vay ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
Tổng quan về Ngân hàng và các dịch vụ Ngân hàng (Phần 2)
... Xem toàn bộ

BÀI BÌNH CHỌN

  Cục Dự trữ liên bang Mỹ: Ngân hàng Trung ương tư hữu  
  Sự ra đời của ngân hàng trung ương  
  Quy trình tín dụng của ngân hàng  
  Thuê tài chính và những điều doanh nghiệp cần biết  
  Một số biện pháp Kiểm soát tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát và hạn chế rủi ro tín dụng  
  Lịch sử ngành ngân hàng thế giới  
  Cách xác định hạn mức tín dụng (phần 2)  
  Vai trò và chức năng của ngân hàng trung ương (Bài 2)  
  FED - Vì sao quan trọng?  
  ĐCSVN - Ngân hàng Việt Nam trước vận hội và thách thức mới  
... Xem tất cả
 
ĐĂNG NHẬP
  Tên truy cập:
  Mật khẩu:

Quên mật khẩu

Tại sao Saga?

1 Bài viết vàng / 17 Bài viết bạc

  Liên hệ nóng:
YM: sagarina 
sagavietnam 
     Email: info@saga.vn

 

Người gửi: kimono  --   25/12/2007 04:09 PM    

Một nghiên cứu về thực trạng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2005

( Bình chọn: 6   --  Thảo luận: 5 --  Số lần đọc: 15596)

© SAGA- saga.vn, 26/12/2007 . Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Ngân hàng năm 2005. Trước xu thế nở rộ thành lập mới ngân hàng thương mại cổ phần (2007-2008), xin được giới thiệu để cộng đồng Saga tham khảo.

1. Thị trường và khách hàng mục tiêu
Thị trường và khách hàng là mục tiêu cạnh tranh của các ngân hàng, các thị trường hoạt động có hiệu quả nhất, tại thời điểm nghiên cứu, của các ngân hàng là thị trường đầu tư, thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc, thị trường mở...

Về thị trường đầu tư:
Sự phát triển của các dịch vụ tài chính ngược lại cũng làm đa dạng hóa các phương thức đầu tư và cũng một phần thay thế, bổ sung cho các phương thức đầu tư khác để phù hợp với khả năng và nhu cầu đầu tư của các danh nghịêp. Sự phát triển của thị trường đầu tư không chỉ dừng lại ở phạm vị một quốc gia và có tính chất quốc tế, ngoài việc đầu tư gián tiếp trên thị trường chứng khoán, mà cácdư án đầu tư trực tiếp xuyên quốc gia, ở các khu vực thị trường đang lên, các hình thức liên doanh, liên kết và mua cổ phần,…cũng làm phát sinh mạnh mẽ các nhu cầu dịch vụ đòi hỏi ngân hàng cung cấp, từ thanh toán, bảo lãnh dự thầu, đồng tài trợ dự án, thuê mua,... đến chuyển đổi tiền tệ.
 
Thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc:

Tính đến hết tháng 12/2005, Bộ tài chính và Ngân hàng nhà nước đã phối hợp tổ chức được 56 phiên đấu thầu tín phiếu Kho bạc. Tổng khối lượng trúng thầu đạt 21.920,6 tỷ đồng, so với mức 18.590 tỷ đồng của năm 2004, đạt mức kỷ luật từ trước đến nay. Điều đó có nghĩa rằng, thông qua thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc, trong năm 2005, ngân sách Nhà nước đã huy động được gần 22.000 tỷ đồng cho nhu cầu chi tiêu với lãi suất thấp hơn và chi phí thấp hơn so với Kho bạc nhà nước trực tiếp phát hành qua mạng lưới của mình. Trong khi đó trong năm 2005,  Kho bạc nhà nước mới chỉ huy động khoản 4.500-5.000 tỉ đồng từ phát hành công trái và trái phiếu Chính phủ. Điều đó càng cho thấy huy động vốn qua kênh đấu thầu tín phiếu Kho bạc có vai trò rất quan trọng, cũng như đạt tín hiệu quả cao. Mặt khác thị trường vay tìm ẩn nhiều rủi ro, nên ngân hàng thương mại vẫn lựa chọn kênh đầu tư tín phiếu Kho bạc tuy lãi sụất thấp hơn nhưng không phát sinh chi phí và độ an toàn tuyệt đối. Đồng thời khi phát sinh nhu cầu vốn đem giao dịch trên thị trừơng mở với Ngân hàng nhà nước đáp ứng thanh khoản ngay tức thời.

Thị trường mở:
Nhận xét chung nhất được rút ra là, trong năm 2005, cùng với thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc (TPKB), thì thị trường mở cũng thu được một số kết quả lớn, thu hút được đông đảo các NHTM tham gia, với qui mô hoạt động hơn hẳn các năm trước và hàng hóa giao dịch đa dạng hơn. Trong năm 2005 NHNN tổ chức hàng trăm phiên giao dịch trên thị trường mở, tính đến tháng 12/2005 tổng doanh số giao dịch là hơn 91.662 tỷ đồng; trong đó NHNN mua vào các giấy tờ có giá còn thời hạn ngắn là 9.862 tỷ đồng và NHNN bán ra tín phiếu của mình là 1.800 tỷ đồng. Đây là 102.gifnăm có khối lượng trúng thầu và cung ứng vốn lớn nhất so với cùng kỳ nhiều năm, gấp 1,5 lần cả năm 2004, gấp 6 lần năm 2003, và gấp 60 lần năm 2002. Điều  đặc biệt hơn trong năm 2005 các loại giấy tờ có giá được các NHTM đưa ra bán trên  thị trường mở đa dạng hơn. Trong cơ cấu gần 90.000 tỷ đồng thì có 39.998,6 tỷ đồng là trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ 1 đến 5 năm, 753,7 tỷ đồng là trái phiếu kho bạc từ 1 đến 2 năm, 1.113,7 tỷ đồng là công trái giáo dục kỳ hạn 5 năm và 47.995,98 tỷ đồng là tín phiếu kho bạc dưới 1 năm.
 
Về phía khách hàng:
Do có sự hiểu biết về tâm lí, và phong tục tập quán của người dân Việt Nam nên khách hàng mục tiêu của NHTM chủ yếu là các danh nghiệp trong nước, trong năm 2005 các NHTM cho vay các doanh nghiệp trong nước là 65%, số huy động từ các doanh nghiệp trong nước là 52% thị phần huy động. Chỉ riêng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ước tính đến hết tháng 12/2005 lượng cho vay tăng 24,6% so với năm 2004, trên địa bàn Hà Nội ước tính đến hết tháng 12/2005 lượng cho vay tăng 20,6% so với năm 2004. Mặt dù vậy không chỉ có Doanh Nghiệp mới là khách hàng của NHTM, do vậy các NHTM đang tiếp tục mở rộng và thu hút các khách ngoài nước và các cá nhân trong nước.

2.  Các sản phẩm ngân hàng
Nhận thức về lợi thế so sánh của phát triển dịch vụ trong cạnh tranh hoạt động nên nhiều NHTM đang cố gắng hoàn thiện chất lượng sản phẩm theo chuẩn mực quốc tế nhưng có sự tương thích ở thị trường Việt Nam. Thu nhập từ dịch vụ tín dụng chiếm tỷ trọng 82,5% và thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng chiếm 14,8% so với tổng thu nhập Ngân hàng: trong đó thu nhập từ dịch vụ truyền thống như trao đổi tiền tệ, chiết khấu thương phiếu, bảo quản vật có giá, cho thuê két sắt, cung cấp tài khoản dịch vụ, các dịch vụ quản lí tài sản, thực hiện di chúc, quản lí danh mục đầu tư, ủy thác chi trả lương, ủy thác phát hành chứng khoán, thanh toán lãi trái phiếu, chi trả cổ tức. Đặt biệt là trong dịch vụ ngoại hối, phát hành thẻ tín dụng, thẻ ATM, dịch vụ trả lương…Nhiều NHTM đã đề ra chiến lược tiếp cận và cung cấp trọn gói tất cả các dịch vụ đối với một khách hàng giao dịch thay vì cung cấp những dịch vụ đơn lẻ theo nhu cầu của khách hàng như trước đây.10.gif

Ngoài ra các NHTM còn cung cấp tới khách hàng các dịch vụ khách hàng cá nhân riêng lẻ và độc đáo, ngoài kênh phân phối truyền thống này, đa phần các kênh phân phối đều mới xuất hiện cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin như: Phone Banking - dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, Internet Banking, Mobile Banking. Mạng lưới ATM còn cho phép sử dụng các thẻ tín dụng quốc tế do các tổ chức quốc tế phát hành như Visa, Master, American express… tại Việt Nam.

Thống kê số lượng thẻ trên thị trường
(tính đến 30/9/2005)

STT

Ngân hàng

Năm 2004

Đến 30/09/2005

1

VCB

460.000

850.000

2

BIDV

45.000

258.614

3

VBARD

100.000

220.000

4

ICB

70.000

150.000

5

EAB

60.000

150.000

6

Techcombank

18.000

35.000

7

Khác (Eximbank, ACB, VIB, Quân đội, Sacombank, Habubank, Phương Nam , Saigonbank,...)

80.000

150.000

 

Tổng cộng

833.000

1.813.614

Thống kê số lượng máy ATM

STT

Ngân hàng

Năm 2004

Đến 30/09/2005

1

VCB

300

417

2

BIDV

50

203

3

VBARD

50

202

4

ICB

130

134

5

EAB

22

140

6

Techcombank

70

23

7

Khác

70

85

 

Tổng cộng

692

1.204

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng, số tháng 11/2005

Xét về sản phẩm thẻ quốc tế, ngày càng có nhiều ngân hàng tham gia vào thị trường thẻ quốc tế (khoảng hơn 10 ngân hàng) nên số lượng và chủng loại thẻ này cũng đang gia tăng nhanh chóng .   
 
3.  Mạng lưới kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được thiết lập thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ ngân hàng phong phú, phục vụ mọi thành phần kinh tế. Tính đến năm 2005, ngành Ngân hàng Việt Nam ngoài hệ thống NHNN có trụ sở chính tại Hà Nội và các chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trong cả nước với hơn 5000 cán bộ, công chức, viên chức, còn có hệ thống các định chế ngân hàng gồm có: 5 ngân hàng thương mại Nhà nước, 1 ngân hàng chính sách xã hội; 25 ngân hàng thương mại cổ phần đô thị; 11 ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn; 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó có 8 ngân hàng có chi nhánh phụ; 4 ngân hàng liên doanh; 44 văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam; 5 công ty tài chính; 9 công ty cho thuê tài chính; 905 quỹ tín dụng nhân dân.

Trong số các định chế ngân hàng trung gian nói trên, đáng chú ý nhất là các ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước tuy chỉ có 5 ngân hàng, nhưng chiếm tới gần 70% thị phần tổng thể các dịch vụ ngân hàng thông qua một mạng lưới “dày đặc” các chi nhánh trong cả nước: Ngân hàng Công thương Việt Nam có 80 chi nhánh cấp 1, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có 28 chi nhánh cấp 1, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có 76 chi nhánh cấp 1, Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long có 25 chi nhánh cấp 1, Ngân hàng Chính sách xã hội có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh, thành và nhất là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với hơn 100 chi nhánh cấp 1 cùng với tổng số gần 2000 chi nhánh từ cấp 2 đến cấp 4 và đã “phủ sóng” đến 100% số huyện, thị trong cả nước, đạt tới mật độ bình quân 4 xã có một chi nhánh, ngoài ra Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn còn có gần 750 xe ôtô chuyên dụng làm “Ngân hàng lưu động”... để bám dân, bám đất và bám làng nghề làm dịch vụ ngân hàng.

4.  Vấn đề cạnh tranh của NHTM
Năm 2005 là giai đoạn đánh dấu sự trưởng thành vượt bật của NHTM nói chung. Cùng với sự trưởng thành thì vấn đề cạnh tranh giữa các NH cũng trở nên ác liệt hơn, việc cạnh tranh tập trung vào các khía cạnh cơ bản như: Tăng vốn điều lệ, cải thiện môi trường công nghệ thông tin theo hướng hiện đại hóa, thu hút nhân tài...
 
Tăng vốn điều lệ:

Do đòi hỏi của thị trường và yêu cầu nâng cao năng lực tài chính từ phía Ngân hàng, các nhà băng cổ phần đang chạy đua tăng vốn điều lệ. Theo giới quan sát đây vừa là mục tiêu, song cũng là động lực để các ngân hàng tự tin bắt tay với đối tác nước ngoài. Tăng vốn điều lệ, giá bán cổ phần cho ngân hàng nước ngoài sẽ cao hơn và ngược lại mời được sự tham gia của đối tác ngoại, vốn chủ sở hữu cũng sẽ tăng cao hơn.

VPBank dự định nâng số vốn lên 700 tỷ đồng trước khi có cổ đông nước ngoài. Trong tài khoá 2006, quy mô vốn sẽ được tăng tiếp lên 1.000 tỷ đồng. Eximbank vừa tuyên bố cuối năm nay sẽ có 1.200 tỷ đồng vốn điều lệ, tăng trên 70% so với cuối 2005. 

Nhóm các ngân hàng đã bán cổ phần cho đối tác nước ngoài cũng tỏ rõ tham vọng nâng cao năng lực tài chính. Vào cuối tháng 2/2006, Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) chính thức tăng vốn điều lệ từ 1.250 tỷ đồng lên 1.800 tỷ đồng. Sau đó, vào khoảng trung tuần tháng ba, sẽ nâng tiếp lên 2.000 tỷ đồng như dự kiến trước đây . Tuy nhiên, 2.000 tỷ đồng chưa phải là mức cuối cùng, nhà băng này đã có kế hoạch nâng vốn cổ đông lên 2.420 tỷ đồng sau khi cổ phiếu được niêm yết trên sàn chứng khoán, dự kiến vào đầu tháng 6 tới.

Vốn điều lệ của Ngân hàng Kỹ thương VN (Techcombank) vừa chạm mốc gần 1.000 tỷ đồng. Đây là bước đi mới của Techcombank sau khi bán 10% cổ phần cho Ngân hàng HSBC tại VN. Như vậy, với mức vốn điều lệ mới, Techcombank tiếp tục duy trì vị trí thứ 3, sau Sacombank và Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB) trong khối các ngân hàng thương mại cổ phần tại VN (ACB đã lên kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 948,32 tỷ đồng lên 1.300 tỷ đồng vào cuối năm nay).

Cải thiện môi trường công nghệ thông tin:
Hiện tại đang có sự đầu tư và cạnh tranh giữa các NHTM về các sản phẩm mới trên nền tảng công nghệ hiện đại. Một số sản phẩm tiêu biểu của các ngân hàng trong năm là thẻ ATM và các dịch vụ đi kèm, thẻ Visa, Master, thẻ tín dụng, e-banking (thanh toán online qua ngân hàng), internet banking (truy vấn thông tin trực tuyến)...

Về thu hút nhân tài:
Song song với quá trình tăng VĐL, thay đổi môi trường công nghệ thông tin, các NHTM cũng đưa ra các chính sách thu hút.
Bên cạch đó nhiều NHTM tăng lãi suất huy động vốn. Lãi suất huy động vốn nội tệ hiện nay bình quân tăng khoảng 0,01% - 0,02%/tháng, hay 0,12% - 0,24%/năm so với đầu năm 2006. Hiện nay lãi suất huy động cao nhất đối với khu vực đô thị thuộc về NHTM cổ phần Đông Á, chi nhánh Hà Nội, kỳ hạn 36 tháng tới 0,83%/năm, tương ứng với 9,96%/năm. Lãi suất cao nhất kỳ hạn 13 tháng thuộc về NHTM cổ phần Nhà Hà Nội, lên tới 0,7822%/tháng (tính theo lãi suất trả sau).

Các NHTM đẩy mạnh hoạt động marketing, tăng chi phí khuyến mại để huy động vốn, thu hút tiền gửi. Hình thức phổ biến là trả  lãi suất cho khách hàng theo bậc thàng. Tức là gửi số tiền càng lớn thì được tính lãi suất càng cao. Bên cạnh đó là quay số trao giải thưởng cho khách. Tổng giá trị giải thưởng lớn nhất thuộc về Ngân hàng Đầu tư – Phát triển Việt Nam, lên tới 8,2 tỷ đồng cho mỗi đợt huy động vốn, thấp nhất thuộc về một số NHTM cổ phần đô thị quy mô nhỏ, cũng tới 400 – 500 triệu đồng.

Các NHTM đa dạng hóa sản phẩm huy động vốn, tạo sự chủ động lựa chọn linh hoạt cho khách hàng, như: gửi một lần nhưng rút gốc linh hoạt cho nhu cầu chi tiêu vẫn được lãi suất cao; gửi góp nhưng lĩnh ra một lần vào cuối kỳ với lãi suất hấp dẫn, gửi tiết kiệm gắn với bảo hiểm nhân thọ; gửi tiền cho vay mua ô tô trả góp… 

Các NHTM tiếp tục cạnh tranh mở rộng mạng lưới, khai trương thêm nhiều chi nhánh, phòng giao dịch ở các thành phố, thị xã, khu vực dân cư tập trung, khu đô thị mới, khu vực thị trường tiềm năng,...

Các NHTM cạnh tranh huy động vốn USD, nếu không cho vay được thì đầu tư trên thị trường tiền gửi quốc tế hưởng chênh lệch lãi suất. So với tháng 1-2006, lãi suất huy động vốn USD của các NHTM hiện nay bình quân tăng 0,22% - 0,30%/năm. Lãi suất huy động vốn kỳ hạn 6 tháng phổ biến ở mức 4,2%/năm, kỳ hạn 12 tháng phổ biến là 4,8%/năm; trong khi đó lãi suất trên thị trường liên ngân hàng Singapore (SIBOR) tương ứng lần lượt là 5,211%/năm và 5,366%/năm. Sau khi trừ đi tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 8% đối với kỳ hạn dưới 12 tháng và 2% đối với kỳ hạn từ 12 tháng đến 24 tháng thì các NHTM vẫn có khoảng chênh lệch lãi suất khá, khoảng 0,90%/năm đến 0,40%/năm, lại hầu như không có rủi ro.

Đối với vốn nội tệ, cạnh tranh huy động để mở rộng cho vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, hiện nay lãi suất cho vay qua đêm Đồng Việt Nam (trên thị trường liên ngân hàng) lên tới 6,5% - 6,8%/năm. Bên cạnh đó là vốn huy động được đầu tư vào các loại giấy tờ có giá, các chứng khoán khác, chủ yếu là cổ phiếu của một số NHTM cổ phần, trái phiếu công trình trái phiếu đô thị, trái phiếu Tổng công ty Nhà nước và Trái phiếu Chính phủ. Việc đầu tư này có một số loại do NHTM, chi nhánh NHTM trực tiếp đầu tư; có một số loại đầu tư qua Công ty kinh doanh chứng khoán của chính ngân hàng đó.

Một kênh đầu tư khác nữa là tăng vốn cho các công ty kinh doanh trực thuộc ngân hàng trong các lĩnh vực: khách sạn, dịch vụ, kinh doanh bất động sản, cho thuê tài chính, kinh doanh vàng bạc... hay góp vốn liên doanh. Đầu tư vốn vào các loại giấy tờ có giá xét trên góc độ quản trị tài sản nợ đó là khi cần NHTM đem các loại giấy tờ có giá giao dịch trên thị trường mở của Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) để đáp ứng thanh khoản, cải thiện tình trạng vốn khả dụng của mình.

5. Điểm mạnh của hệ thống NHTM Việt Nam

Hệ thống mạng lưới và khách hàng quen thuộc:
Hoạt động trên “sân nhà”, các ngân hàng thương mại có một hệ thống mạng lưới rộng khắp và đối tượng khách hàng đa dạng và còn có sự hiểu biết tâm lý, phong tục, tập quán… của khách hàng - đây là những thế quan trọng.

Thị phần lớn và ổn định:
Các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện đang chiếm lĩnh phần lớn thị trường tài chính trong nước; Trong đó hầu hết các doanh nghiệp trong nước là khách hàng gửi tiền và vay vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam (tính đến/12/2004 NHTM VN chiếm thị phần huy động là 89% trong đó NHTM NN là 70% ; thị phần tín dụng là 90% trong đó NHTM NN là 72%).

Môi trường pháp lý thuận lợi:
Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã có được nhiều lợi thế từ ưu đãi của môi trường pháp luật so với các ngân hàng nước ngoài trong quá trình kinh doanh tại Việt Nam (huy động tiền gửi, tín dụng, lĩnh vực kinh doanh, mở chi nhánh… ). Tuy nhiên, theo các cam kết quốc tế thì lợi thế này không thể kéo dài mãi và ngày càng mờ nhạt.

6. Điểm yếu của các NHTM Việt Nam

Năng lực tài chính yếu:
Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam thấp hơn đáng so với tiêu chuẩn quốc tế (bình quân chỉ số CAR theo nguyên tắc BASLE của các NHTM NN chỉ đạt khoản 4.5%, thấp hơn nhiều so với yêu cầu là 8%).

Năng lực tài chính yếu là trở ngại lớn  đối với việc mở rộng hoạt động kinh doanh và tăng trưởng cũng như tạo ra bất lợi trong quá trình cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.

Chất lượng tài sản thấp:
Tỷ lệ nợ xấu cao làm giảm hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam; đồng thời cũng là nhân tố tiềm tàng dẫn đến mất ổn định tài chính đối với nền kinh tế.

Hệ thống báo cáo, kế toán thiếu minh bạch:
Sự khác biệt giữa hệ thống kế toán ngân hàng Việt Nam (VAS) và hệ thống ngân hàng quốc tế (IAS) đã dẫn đến việc sai lệch đáng kể trong đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó tạo nên việc quản trị ngân hàng kém hiệu quả và minh bạch(Năm 2001tài sản có của hệ thống Ngân hàng theo VAS nhiều hơn 4000 tỷ đồng so với cách đánh giá theo IAS và con số này tăng lên 6000 tỷ đồng trong năm 2002. Và theo đó tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản chịu rủi ro (VAR) theo 2 cách tính tương ướng là 4.9% và -0.8%. Như vậy theo VAS thì hệ thống NHTM VN hoạt động rất tốt còn theo IAS thì hoạt động kém).

Trình độ về công nghệ, kinh doanh, kỹ năng kinh doanh hạn chế:
Mặc dù các ngân hàng đã và đang tích cực đầu tư để đổi mới và hiện đại hoá công nghệ và nâng cao trình độ quản lý, quản trị điều hành; nhưng nhìn chung các ngân hàng thương mại Việt Nam còn bị tụt hậu so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới về công nghệ và trình độ quản lý.

Sản phẩm dịch vụ nghèo nàn:
Các ngân hàng Việt Nam vẫn chủ yếu cung cấp các dịch vụ sản phẩm, dịch vụ truyền thống và đơn giản như nhận tiền gửi và cho vay với kênh phân phối truyền thống qua các chi nhánh. Các sản phẩm có tính chất phức tạp như quản lý tài sản, quản lý danh mục đầu tư; các sản phẩm bán chéo hay các sản phẩm phát sinh; kênh phân phối điện tử như ATM, interrnet banking. Phone banking chưa phát triển (Theo thống kê của Intelligent Economic Unit trung bình một ngân hàng đa doanh hoạt động toàn cầu cung cấp cho khách hàng trên 2.000.000 sản phẩm. Trong khi ở Việt Nam theo thống kê cho thấy hệ thống NHTM VN cung cấp cho khách hàng chưa trên 100 sản phẩm).

Mạng lưới hoạt động ở nước ngoài nhỏ bé:
Các ngân hàng Việt Nam chưa có chi nhánh tại nước ngoài (ngoại trừ các ngân hàng có VPĐD). Điều này hạn chế việc mở rộng các hoạt động ngân hàng quốc tế như thanh toán xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, chuyển tiền; cũng như hạn chế khả năng mở rộng thị trường kinh doanh, cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng nước ngoài.

Năng lực quản trị rủi ro yếu:
Hiện nay, các ngân hàng thương mại còn chưa đánh giá và xác định đầy đủ rủi ro trên cơ sở khoa học chặt chẽ. Các mô hình và công cụ hiên đại để đo lường và quản lý rủi ro cũng như chưa được ứng dụng rộng rãi (quản lý tài sản nợ - tài sản có, quản trị ngân hàng theo nguyên tắc CAMEL,…). Một số ngân hàng mới chỉ bắt đầu áp dụng các chuẩn mực quốc tế ở mức độ thấp. Chất lượng và năng lực quản trị rủi ro vì thế còn rất yếu.

Theo Tạp chí Ngân hàng

 
Bookmark and Share
  File gắn kèm:
 
  File download:
 
Điểm trung bình:           Tổng điểm: 26/ 6 lượt bình chọn
Bình chọn:
 

+ Thêm vào Bài viết ưa thích +   

+ Xóa bỏ việc nhận tin nhắn thông báo khi có thảo luận mới cho bài viết này +   
 
Bổ sung nội dung cho bài viết và tranh luận( 2)
  ntqviet (21/03/2008 10:57 PM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Hỏi về báo cáo thường niên ngành Ngân hàng VN năm 2007 -  Hiện nay, anh chị nào, bạn nào có báo cáo thường niên tổng hợp hoạt động ngành ngân hàng 2007 thì chỉ cho mình download với. Xin cảm ơn và xin hậu tạ.
 
   
     
  aron007vn (27/12/2007 10:06 AM) Có ích: 0/0    
 
© SAGA - Câu hỏi về lĩnh vực ngân hàng? -  Câu 1: Theo các bạn tại sao gần đây các ngân hàng (NH) ở các nước phát triển từ việc chú trọng quản trị tài sản có sang chú trọng quản trị tài sản nợ?

Câu 2: Tại sao NH nhà nước có xu hướng buộc các NH thương mại cổ phần tăng vốn tự có (chủ yếu là vốn điều lệ) theo mức qui định?

Câu 3: Một ngân hàng có vốn tự có quá thấp sẽ gặp những rủi ro gì? Why?

Câu 4: Thực tế hiện nay các NH quản trị Tài sản Nợ-Tài sản Có như thế nào?
 
Mình chờ sự sung sức của các bạn đam mê về lĩnh vực này. Thân ái!

 
   
     
 
Thảo luận (3) Thành viên ưa thích (6)
Trang trước   -  1/1  -   Trang sau
 
  Win (04/05/2008 08:34 PM)  
 
Bài viết rất hay! Mình đang làm đề án về môi trường marketing về NH (NH VietinBank), (ma trận SWOT).... Đang tìm tài liệu...tùm lum... Mọi người có tài liệu thì...chia sẻ với nhe! Cám ơn nhiều.
 
   
     
  BIENNHO (21/03/2008 08:58 PM)  
 
Theo bạn việc tăng lãi suất hiện nay ngân hàng gặp phải những khó khăn gì?
 
   
     
  Phuong (27/12/2007 10:17 AM)  
 
Bài viết có một số thống kê đáng lưu ý, có ý nghĩa sử dụng. Cảm ơn bạn kimono đã sưu tầm nhé.
 
   
     
 
     Gửi thảo luận (Vui lòng gõ Tiếng Việt có dấu. Nếu bạn chưa có bộ gõ Tiếng Việt, nhấn vào đây  
     
Tiêu đề 
   
 
( Tối đa1MB)
 
    (Để tham gia thảo luận, bạn cần đăng nhập)  
 
 
 
:: CÁC BÀI LIÊN QUAN
 
 
:: CÁC BÀI MỚI TRONG NGÀY
 
 
:: CÁC BÀI TIẾP THEO
Xu hướng ngân hàng & siêu tập đoàn!
Thành lập mới ngân hàng thương mại cổ phần: có gì cần lưu ý?
Một số biện pháp Kiểm soát tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát và hạn chế rủi ro tín dụng
Chấm dứt dùng tiền Nhà nước cứu các ngân hàng đổ vỡ
Cạnh tranh ngân hàng: bắt đầu từ đâu?
Lãi suất ngân hàng, bài toán vòng tròn
Sân chơi nào cho các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam?
 
 
 
 

Đăng ký:216483 (Vàng: 21 - Bạc:11)

Thảo luận:42710

Thuật ngữ tài chính-kinhdoanh:4964

Hỏi đáp kinh tế-kinh doanh:1494

Counter:
hit counter

Chăm sóc kỹ thuật bởi  NVS

TRANG CHỦ  |  GIỚI THIỆU  |  SITEMAP |  ĐỐI TÁC  |  ĐIỀU KHOẢN  |  Ý KIẾN  |  LIÊN HỆ/QUẢNG CÁO
Liên hệ quảng cáo:
CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ TRỰC TUYẾN IP (IP MEDIA JSC)
Email: info@saga.vn
 
Hà Nội: Tầng 26 Xuân Thủy Tower, 173 Xuân Thủy, Q Cầu Giấy – ĐT: (04) 39446509
TP HCM: Lầu 5, 293 Điện Biên Phủ, P. 15, Q. Bình Thạnh - ĐT:(08) 54042168
Giấy phép số 362/GP-BC do Cục Báo chí, Bộ Văn hoá-Thông tin cấp ngày 05/12/2006.
® Ghi rõ nguồn "saga.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.